Wednesday, April 8, 2015

Hồi - Dương Nhơn Quả và Ngọc Lịch Minh Kinh (1)


    Lâu lắm mới thấy lại quyển Ngọc Lịch Minh kinh này. Cũng nhờ cố HT Thích Thượng Thanh Hạ Đạm lúc nào cũng khuyến dẫn những truyện kinh có hữu ích.   Truyện kinh nào đọc xong chuyền tay cho chị bạn là có ngày đi không có ngày về.  Từ ngày Thầy khuất bóng về Tây thì không tìm thấy quyển kinh này nữa mà đa số những ấn bản sau này thấy lạ quắc, lạ quơ.   Hôm nay mới gặp lại cố tri nên copy về Blog để không thôi không tìm thấy lại y như 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà trên youtube có phụ để do giọng đọc của cô nào không biết tên mà tìm lại hoài không thấy.  Trong bài kinh thấy có nhiều chính tả sai, đã ráng chỉnh nhưng vì dài quá từ từ sẽ coi lại.  Nhớ là có 12 Điện Diêm La Vương nhưng trong bài kinh này chỉ có 10 thôi?

    ---------------------------------------------------------------------------------------------------------


    Hồi - Dương Nhơn Quả và Ngọc Lịch Minh Kinh 
    Ấn Tống - Phật Lịch 2540 - 1996 

    Tựa 

    Của Giang-Triều - Viễn khắc bản lần thứ nhì


    Xưa nay, làm lành thì đặng phước, dữ ác thì mắc họa, nhơn-quả báo-ứng rõ ràng, và đủ bằng chứng. Còn có lời nguyện là vái-van thì phải huờn nguyện là trả lễ. Còn lời nguyện tôi lấy làm tệ quá! là nguyên năm Kỉ - Vì, trào Thanh vua Gia-Khánh, tôi dạy học tại đất Tam-tấn, hai lần phát nguyện in sáu ngàn bộ Như-ý-lục là sách khuyến -thiện, mà cho người; vái nội mười năm in cho đủ số. Ba năm khắc mới rồi bản Như-ý -lục tại kính -kỳ, hụt tiền nên in mới năm trăm bộ! Thảng - mảng đã đến mười năm, té ra trả tiền lễ chưa đủ, mà cha tôi qua đời! Tôi ăn năn buồn rầu, vì cầu thọ cho cha không hết lòng, nên sống không đặng lâu dài, mà còn mắc nợ lời vái.

    Qua tháng mười một năm Giáp-Thìn, tôi đến kinh-đô nữa, vào chùa Dao-nhiên, lại cầu đức Văn-Xương-Đế -quân cho nán năm năm nữa, sẽ in đủ số sách mà chuộc tội (Cái sự nguyện in thiên-thơ mà cầu việc chi, đã có nói trong tựa sách Như-ý -lục, ấy là nguyện vái cầu thọ cho cha sống lâu).

    Qua năm sau là năm Kỉ-Vì, in thêm một ngàn bộ. Song sợ lòng xao lãng theo luật Công-quá -cách, và hay xem lời khuyên đời các tính trung hiếu, đều rút biên thêm sau cuốn Như-ý-lục, mùa thu khắc thêm rồi. Nay là năm Bính thân, in thêm một ngàn bộ nữa. Lúc nầy tôi dạy tại sông Thiên giang; tiền tuy ít, mà không dám bê trễ. Khi ấy xảy gặp thầy Cố - tình -Nhai là ngươi in kinh, nói chuyện cuốn Hồi -dương Nhơn quả, đưa cho tôi xem, coi kỹ lời nói việc lành việc dữ rành rẽ, bắt rùng mình, rởn óc, sợ run! Thầm xét sách của bậc thánh hiền, luật của tiên, kinh của Phật, là lời dạy của tam giáo (ba đạo) đều khuyên người chừa dữ làm lành. Nhưng mà cuốn Hồi dương nhơn-quả nầy người xem nghe càng dễ hiểu, đủ tin: nên các kinh khuyến thiện cho kinh nầy là đường tắt hơn hết. Nghĩ như vậy, tôi chia số tiền ấy, phân nửa in Như ý lục có phụ thêm, còn phân nửa khắc bản Hồi dương nhơn quả in cho đời, mới rồi lời vái trước.



    (Như vậy lời tựa nầy, là lần khắc bản nhì).



    TỰA


    Khắc bản Hồi Dương Nhơn Quả lần thứ ba


    Dương-gian âm-phủ thưởng phạt cùng một lý không khác. Người trí thì hiểu, kẻ dốt không thông. Nay hỏi thử kẻ không thông học như vầy: “Lời xưa nói: Việc Âm-phủ chẳng nên tin tron, song cũng phải tin. Như vậy, tin tại lỗ tai hay tin tại con mắt?”Chắc trả lời rằng: “Tai nghe có lý cũng tin, mà sao bằng mắt thấy.”

    Huyện Kim Khê, có chàng họ Lý tên Hạo-Chiêm, tự Chung-Tú, thuật chuyện chàng họ Giang tên Triều -Viễn, tự Giác Phi ở huyện Bạch - Hà, khắc thêm bản kinh Hồi-dương nhơn-quả, là khắc lần thứ nhì, do theo bản của Lâm-Tự-Kỳ. Nguyên tích Lâm-Tự-Kỳ ở huyện Hiếu -cảm, tỉnh Hồ-Bắc, bị quỉ Vô-thường lầm bắt hồn xuống âm-phủ, thấy vua Nhứt-Điện với các phán-quan xử nhiều án. Sau sống lại nhớ chừng, chép làm một tập, có vẽ hình vua Minh vương với Phán -quan xử các tội hồn và quỉ sứ hành hình, thích nghĩa minh bạch âm-luận rõ ràng. Rồi rủ đông người chung đậu, mướn khắc bản in cho thiên hạ phỏng vài ngàn cuốn (Như vây, Lậm-Tự-Kỳ khắc bản là lần thứ nhứt ).

    Khi ấy tại chợ Kiến-khê, có người bằng hữu đặng một bổn, muốn khắc bản, dùng tại xứ minh cho gần, vì Hồ-Bắc với huyện Bạch-Hạ đều xa cả. Chàng Lý-Chung-Tú cũng ở về quận Kiến-Khê khen ngợi lắm, khuyên rủ các vị háo thiện hay làm phước bố thí, đậu bạc khắc bản lần thứ ba, xin tôi đặt lời tựa, để in trước mặt kinh. Tôi nói: “Ai cũng muốn làm lành như mình. Nếu lấy sự tai nghe mà khuyên người hồi tâm, sửa lòng làm lành chừa dữ. Sao bằng lấy sự mắt thấy khuyên người, chắc ý tin thiệt chừa lỗi làm lành. Bởi vì tin chắc có kẻ thác đi sống lại, thấy việc âm phủ xử đoán mà thuật chuyện, dương-gian âm-phủ tuy cách nhau, mà thưởng lành phạt dữ cùng một lý không khác. Ta còn nói điều chi nữa?”

    Trào Thanh niên hiệu vua Đạo Quang năm thứ tám, năm Mậu-Tý, nửa tháng tư, quận Kiến khê Trương-Hữu-Thiện rửa tay kính đề tựa nầy, tại Minh-Châu-Đường.

    Nay ông Lê-Nghiêm-Kỉnh với Thôn-Cựu-Giác, Cô-Thành-Đức cậy dịch. Hồi-dương nhơn-quả, còn tôi tín nguyện dịch thêm Ngọc Lịch.

    Thơ rằng: 

    Trần Lê lo dịch tích Hồi dương,
    Phong nầm nghe kinh hiểu chán chường,
    Sắc chỉ Minh-Vương phân xử thẳng,
    Làm gương mấy án thế xem tường.




    HỒI DƯƠNG NHƠN QUẢ 

    SỰ TÍCH LÂM TỰ KỲ 

    BỊ QUỶ BẮT LẦM, SỐNG LẠI THUẬT CHUYỆN ÂM PHỦ
    VUA NHỨT ĐIỆN XỬ 43 ÁN, NHỜ UỐNG PHÁT HUỆ MỚI NHỚ


    Trong tỉnh Hồ Quảng có huyện Hiếu Cảm, tại làng Lê Thọ có một người học nho, họ Lâm tên Tự Kỳ, thuở nay ăn chay cữ sát sanh, hôm mai thường tung kinh Kim Cang, song không hiểu nghĩa lý trong kinh cho hết. Tánh ở công bình hiền hậu. Xóm làng đều kính trọng người.

    Nhằm bữa mồng hai tháng ba, năm Mậu-ngũ, trào vua Gia-Khánh, Lâm Tự Kỳ dậy sớm thắp hương cúng lạy. Xảy đâu mấy con quỉ vật Tự Kỳ mà bắt hồn dẫn đi; đem đến miểu ông Địa sở tại xem xét rồi. Qua bữa sau giải tới miểu Thành Hoàng ( là ông thần đình sở tại ) xem xét nữa, nội ngày ấy giải đến đền vua Tây Nhạc, là chỗ hội các hồn mới chết, phỏng là ba bốn trăm hồn, vua Tây Nhạc phê nhận các tờ rồi giải qua Đô-thống-ti xử đoán. Bữa thứ ba mới tới Đô thống ti đủ mặt Lâm Tự Kỳ, thấy các hổn đều mang gông xiếng áo quần rách rưới. Quỉ xứ lùa hết vào dinh Chưỡng án phán quan ( ông phán quan coi các án ) mà phát đính bài mỗi hồn, đeo trên cổ, có đề phạm những tội gì. Tới phiên kêu tên Lăng Sỉ Kỳ ở làng Lý Thọ, huyện Hiếu Cảm đeo đính bài bốn chữ”ác phạm ngưu đồ”( nghĩa là tên tội phạm hàng trâu ), quĩ dẫn hồn Lâm Tự Kỳ vào hầu tra. Phán quan xem thấy trên đầu Lâm Tự Kỳ có chiếu hào quang nhấp nháng. Phán quan hỏi: “  Người làm hàng bấy lâu, giết bao nhiêu trâu?” Tự Kỳ bẩm rằng: “Mô Phật tôi thuở nay không giết trâu nào hết. Phán quan nói: ngươi không giết trâu sao đeo đính bài, trên tên họ ngươi có bốn chữ”ác phạm ngưu đồ?” Mà ngươi phải ở làng Lý Thọ chăng?” Tự Kỳ bẩm: “Tôi ở làng Lê Thọ, chớ không phải làng Lý Thọ.”  Phán quan hỏi: “  Ngươi mấy mươi tuổi?”  Bẩm rằng: “Tôi đã bốn mươi mốt tuổi.”  Hỏi: “Sanh tháng ngày giờ nào?”Bẩm: “Sanh nhằm giờ Thìn, mồng ba tháng giêng.”  Phán quan tra bộ rồi nói: Lâm Tự Kỳ ở làng Lê Thọ số tới 78 tuổi, cớ nào bắt tới làm chi! Vả lại: họ tên trong bộ tuy trùng tiếng trên đính bài, mà chữ không trùng, tên làng cũng đồng âm mà bất đồng tự. Huống chi chi ngày sanh tháng đẻ khác nhau. Nhà ngươi là Lâm Tự Kỳ ở làng Lê Thọ, còn ta sai bắt tên hàng trâu là Lăng Sỉ Kỳ ở làng Lý Thọ kìa. Bởi nó mới 36 tuổi, làm hàng giết trâu chó phỏng vài trăm con. Hỡi còn tội khác kể không xiết, nên đáng đoạ tam đồ, là hành hình ba cách: trấn nước, đốt nấu dầu, đâm chém bằm xắt, kêu là thuỷ đồ, hoả đồ, đao đồ. Còn ngươi có chiếu hào quang trên đầu, chắc là ngươi làm lành tụng kinh kệ.”Bẩm rằng: “Tôi thuở nay không làm điều chi lành lắm, song chẳng dám làm việc dữ. Từ mười bảy tuổi ăn chay, đến nay đã hai mươi mấy năm, thường ngày dầu mắc việc chi gấp lắm, cũng lo tụng cho rồi một cuốn kinh Kim Cang, và niệm Di Đà vài trăm câu, rồi mới làm công việc.”  Phán quan nói: “  Như vậy thì là người lành: quỉ xứ bắt lầm một người thường cũng có tội, huống chi là người lành! Vả lại Thổ địa sở tại, với các vị thần xem xét đều sơ lầm, cũng có lỗi nữa, việc nầy quan hệ, chẳng phải nhỏ đâu! Vậy thời thiện-nhơn hãy ngồi đỡ mái tây, đợi tôi tâu cho vua hay, rồi sẽ đưa về dương thế.”( Nghĩa là hườn hồn sống lại ). Xảy có hai người đồng tử mặc áo xanh dắt hồn Tự Kỳ đến nhà khách mái tây. Thấy trên tấm biển đề bốn chữ”Tây Phương chú tiết”: ( Nghĩa là chỗ ở tạm mà đợi rước về Tây phương cho rõ ràng tiết nghĩa ), lại có đối liễn cột cái như vậy:

    Đại trượng phu, thủ bất khai sanh tử lộ.
    Kỳ nam tử, song mi số phá lợi danh quan.


    THÍCH NÔM: Đứng bực trượng phu chí cả, thông hiểu sự sống làm thì thác có báo ứng vầ phần hồn, nên không dám làm dữ, mà lại làm lành nhờ thần sau. Còn nam nhi cao kỳ thông thái ấy, sự danh lợi thì mất đức hạnh nên không lòng tham danh lợi, lo tu nhơn tích đức cho phần hồn.

    Khi ấy, Tự Kỳ vào trong nhà khách, thấy có ba người; một gái, hai trai, đều ăn mặc theo đạo sĩ ( thầy pháp tàu ) tay cầm xâu chuỗi lần, đồng đứng dậy, chắp tay mời ngồi. Đồng tử nói: “Thiện sĩ ngồi chờ một chút, đợi vua ngự sẽ vời.” Giây phút nghe ba tiếng trôngmở cửa đền. Đồng tử đến vời Tự Kỳ đến cửa đền, thấy trên cửa ngõ có treo tấm biển ngang, đề mười một chữ:

    Kinh châu đẳng xứ sanh hồn thiện ác đô thống ti.


    NGHĨA LÀ: Sở đô thống ti coi xử hồn dữ lành Kinh châu.

    Cửa ngõ đề đôi liễng rằng:

    Âm dương bổn vô dị lý. Cảm ứng xát hữu minh trưng.


    NÔM: Âm dương vốn không khác lý. Cảm ứng thiệt có quả tang.

    Đối liễng trên cột như vầy:

    Gian hùng đáo thử, năng bất tâm hàn.
    Thiện sĩ lâm tư, tự nhiên khí tráng.


    NÔM:Gian hùng đến đó sao khỏi lòng nao.
    Lương thiện vào đây tự nhiên hơi khoẻ.

    Vảo cửa trong, thấy treo tấm biển bốn chữ.

    Phước thiện hạo dâm.


    NGHĨA LÀ:Thưởng người lương thiện, phạt tội tà dâm.

    Và đôi liễng như vầy:

    Nghiệt cảnh phân minh xảo kế thiên ban nam tế yểm.
    Dạ đài thê sở công hầu cực phẩm bất tương nhiên.


    NÔM: Gông báu sáng loà, xảo kế nhiều bề không thể giấu.
    Để cầm thảm khổ, công hầu tột bực chẳng hề dung.

    Đôi liễng nữa rằng:

    Thiên đường hữu lộ chi tu ốc lậu đổ thanh nhiên.
    Địa ngục vô nôm chỉ vị thốn tâm da ám địa.


    NÔM:Thiên đường có nẻo thẳng, cho hay nhà kín thấy trời xanh.
    Địa ngục không ngõ ra, cũng bởi tấc lòng theo đất tối.

    NGHĨA LÀ: Trong nhà kín nhà tối, coi như ban ngày, không dám làm quấy thì đặng lên Thiên đường. Nếu không lòng tối tăm, hay tính mưu thầm kế trộm, cơ xão độc ác, thì sa địa ngục.

    Vào tới đơn trì ( sân sơn son ), trên treo bốn biểu chữ Tam vô tư đường ( nhà ba đều không tư ).

    Kinh Lễ Ký nói: Thiên vô tư phúc, địa vô tư tải, nhựt nguyệt vô tư chiếu. Nghĩa là: Trời không che riêng, đất không chỗ riêng, nhựt nguyệt không chiếu riêng ).

    Đôi liễng như vầy:

    Sanh bình nhứt vị hồ hành, kham thán tín tâm bất cập tảo.
    Kim nhựt thiên ban thọ khổ, cự tư hồi thủ khước hiềm trì.


    NÔM: Bấy lâu một thói làm hồ, tiếc nhẻ lòng tin khôn kịp sớm.
    Thuở nay nhiều bề chịu khổ, thương ôi dạ tũi khiến ra chầy!

    Trông xa, đôi liễng trên cột như vầy:

    Đối Quỉ sát, Dạ xa, mạc quái đương tiền nhan diệc ác.
    Thượng đao sơn, kím thọ, phương trì tích nhựt niệm đầu sai.
    ( Kím thọ là cây có buộc gươm trên nhánh nhiều quăng tội lên ).

    NÔM: Ngó Quỉ xứ Dạ xa, chớ trách cõi nầy nhiều mặt dữ.
    Lên đào sang, kím thọ mới hay thuở trước tấc lòng sai.

    Trên cao có treo tấm biển bốn chữ:

    Thưởng khách hình oai.
    ( Thưởng người lành, phạt kẻ oai dữ ).

    Phía Đông treo tấm biễn bảy chữ:

    Tân thiết vô gian Tăng nho ngục.


    NGHĨA LÀ: Mới lập thêm địa ngục hành không hở, là hành rồi cách nầy, dạy hành cách khác, để trị tội sãi tu giả, sĩ hại đời.

    Đôi liễng dài hai bên như vầy:

    Thọ Bồ tát giái âm tá môn không ngu kì, vương pháp nhiêu Phật, pháp bất nhiêu.
    Độc Thánh hiền thơ phản tương nho thuật sát nhơn thê vỏng lậu, thiên vỏng bất lậu.


    THÍCH NÔM: Đọc kinh Bồ tát thầm ẩn chùa chiên dối thế, phép vua dung phép Phật chẳng dung.
     

    Học sách Thánh hiền, dám đem chữ nghĩa hại người, lưới đời lọt, lưới trời không lọt. 

    Ấy là hành tội sãi tu dối, và kẻ học hay đặt đơn hại người ).

    Thuở ấy, các hồn đều quì dưới thềm. Phán quan thâu giấy tờ tâu rành sự bắt lầm v.v... Tần Quảng vương xem rồi, phán rằng: “  Người nầy quả thiệt hiền lành, lại ăn chay tụng kinh, vả lại chưa tới số, đáng cho hườn hồn. Còn 4 quỉ Dạ xa bắt lầm, xử trượng mỗi tên tám chục roi, rồi giam lại sẽ kêu án. Lỗi Thổ Địa tại làng chỉ đi bắt lầm, ta cũng dâng sớ cho Ngọc Hoàng đế phạt tội. Rồi phán hõi Tự Kỳ rằng: “  Người bấy lâu tụng Kinh chi?” Tự Kỳ tâu: “Tụng kinh Kim Cang.”   Phán: Hay lắm! Mà tụng bao nhiêu cuốn?” Tâu: “Tôi không nhớ, song tôi ăn chay hăm mấy năm, còn tụng kinh mới 7 năm.” Vua truyền Phán quan tra coi tụng đặng bao nhiêu cuốn. Phán quan giở bộ đếm cọng đặng 3503 cuốn. Phán rằng: “Số ngươi còn nhiều, ước tụng cũng dư một tạng (một tạng là 5848 cuốn ). Mà ngươi có rõ nghĩa lý trong kinh chăng? Tâu: “Tôi không hiểu cho hết.” Phán: “  Nếu hiểu nghĩa kinh mà ở theo, và khuyên người nữa, thì công đức lường không xiết. Chớ như tụng không, thì công đức mười phần, đặng có ba phần.”  Tự Kỳ tâu: “Mướn người tụng kinh thế cho mình có đặng phước chăng?” Phán: “Mướn người tụng mười phần, đặng một phần phước. Nhưng mà còn hơn kẻ không tụng. Khi trước người tụng kinh Kim Cang, chưa khỏi sai siển. Lúc đương tụng trong lòng không thanh tịnh hoăc nhớ mấy việc nầy việc kia.  Ấy là miệng tụng láy có, mười phầm được phước không đặng hai ba phần. Vậy từ rày sắp sau phải rán sức suy cho thông nghĩa lý, miệng niệm, lòng tưởng. Gặp ai cũng giảng bốn câu kệ trong kinh Kim Cang, thì mới có trông về Tây phương đặng.”  Phán quan tâu: “  Người nầy cách thế gian đã năm ngày, trái tim phải lạnh, chắc trong nhà liệm rồi, e khó sống lại. Nếu Ngọc Đế tra ra, ắt không tiện lắm. Xin vương gia cho hườn hồn lập tức.”  Vua phán rằng: “Không hề chi. Ngày mồng 2, 12, 22, ngày mồng 5, rằm, 25, mồng tám, 18, 28 đều là ngày lệ xử các phạm hồn tại đây. Nay là ngày số 8 ( mồng 8 ) cũng nhằm kỳ xử. Ta thấy người đời không tin nhơn quả báo ứng, dễ khinh lời thánh, chê bai Tam Bảo (là Phật, Pháp, Tăng: Phật, kinh luật thầy tu), các tội ấy rất nhiều. Nay cầm thiện sĩ một ngày, xem ta xử đoan lành dữ, nữa sống lại, thuật chuyện cho người đời nghe. Mau cho thiện sĩ uống một hườn thuốc Noản Tâm nầy thì trái tim ấm tới bảy ngày.”Rối phán rằng: “  Phàm các hồn đến cửa nhứt nầy, quá bảy ngày mới giải qua chín vua Thập điện, thì sống lại không đặng.”  Tự Kỳ tâu: “  Vì cớ nào mái tây có nhà khách gọi là: Tây phương chú tiết, người phàm đến đó đặng chăng?”  Vua phán: “Không phải đến đặng. Phàm người thác, đem hồn tới vua Tây Nhạc xem xét, phê rối mới giải đến đây. Trẩm xét rõ đáng luân hồi mới phê vào tờ, rồi gởi qua vua Đông Nhạc xem rõ mới phát một tờ cho đi đầu thai, hồn ấy mới đặng đầu thai. Còn trừ ra ai trọn lành không dử, hoặc ăn chay tụng kinh chơn tu, thì trẫm không phép xử đoán, nên cho ở tạm mái tây, đợi trẫm viết điệp triệu Kim Đồng Ngọc Nữ, đem tàng phương báu, rước hồn lên Thiên đường. Tâu: “Sao gọi là Thiên đường?” Phán: “Cõi thiên đường sáng láng rộng ngay. Nếu lòng ai sáng láng, ở rộng rãi ngay thẳng, thì hồn lên Thiên đường.”  Tâu: “Còn địa ngục thế nào?”  Phán: “Chốn địa ngục thấp dơn đen tối. nếu ai lòng ở hèn hạ, nhơ nhớp, xấu xa, mê muội, thì hồn sa địa ngục.”  Tâu: “  Những hồn lên Thiên đường hoặc sa địa ngục có luân hồi (đầu thai) chăng?”  Phán: “Đã lên thiên đường, hoặc sa địa ngục, đâu còn đầu thai, song cũng có khi chưa đứng bực cũng còn đầu thai nữa.” Tâu: “  Như vậy bực nào phải luân hồi?” Phán: “Trong một ngàn người, may một hai người lên Thiên đường. Còn ngàn người phỏng vài trăm người bị cầm địa ngục,. Còn bao nhiêu (800) đều luân hồi hết. Bởi vì ai trọn lành không phạm một điều dữ, mới đặng lên Thiên đường. Nếu ai trọn dữ, không làm một điều lành, mới bị cầm địa ngục. Còn ai không lành không dữ, hoặc nữ lành nửa dữ đều phải đầu thai.” Tâu: “Hoặc kẻ trước làm lành, sau làm dữ, hoặc người trước làm dữ sau làm lành, có kẻ dữ nhiều lành ít, kẻ thì dữ ít lành nhiều, vương gia mới xử làm sao?” Phán: “Trước làm lành, sau sanh dữ, thì ghi dữ, chẳng ghi lành. Trước làm dữ, sau chừa lỗi làm lành, thì ghi lành, chẳng ghi dữ. Còn dữ nhiều lành ít, đem lành trừ dữ, còn dư bao nhiêu dữ, thì hành mà trả họa. Dữ ít lành nhiều, thì đem dữ trừ lành, còn dư bao nhiêu lành thì trả phước.” Tâu: “  Nếu ghi dữ chẳng ghi lành, thì những kẻ trước làm lành, sau làm dữ cũng như trọn dữ một thứ. Còn ghi lành chẳng ghi dữ, thì những kẻ trước làm dử sau làm lành, cũng như người trọn lành một thế, không phải chẳng chia nặng nhẹ sao?”  Phán: “Chẳng phải nói như vậy! Bởi người làm lành chẳng trọn, thì Ngọc Đế ghét lắm, cho nên ghi dữ, chẳng ghi lành, song không phải chẳng kể sự lành của nó đâu, nhưng tính giảm hết phân nửa việc lành. Còn kẻ ăn năn chừa lỗi, thì Ngọc Đế thương lắm, nên ghi lành chẳng ghi dữ, song chẳng phải không ghi dữ một chút nào, nhưng mà giảm phân nửa việc dữ.” Tâu: “Tôi thường thấy người làm lành mà bị nghèo nàn. Còn kẻ dữ lại đặng giàu sang. Trời báo ứng không rõ ràng, nên hiểu chẳng thấu!”  Phán: “  Người lành mắc hoạ, e mặt lành mà lòng chẳng lành. Kẻ dữ mà đặng phước, e mặt dữ mà torng lòng không dữ. Thượng Đế trong thiệt tình, chớ không cần sự làm mặt bề ngoài. Bởi làm mặt bề ngoài thì dối người đặng, chớ lòng dối trời sao đặng. Xưa nay quả báo chắc không lầm. Song việc nhơn quả báo ứng có nhiều cách. Có khi dữ lành kiếp trước mới trả đời nay. Lành dữ đời nầy, kiếp sau mới trả. Hoặc đời nào trả theo đời ấy, có khi mới làm lành mà dữ trả lập tức nhãn tiền. Còn như người nói: “Dữ đặng phước, lành mắc hoạ.”  Là bởi lâm lành, làm dữ đời nay chưa bao nhiêu mà mắc trả lành lớn dữ lớn, kiếp trước chưa rồi, làm sao người hiểu thấu. Bởi vì trả kiếp trước của chúng nó, lành cho hưởng phước, dữ cho mắc hoạ, cho dứt nợ kiếp trước. Rồi mới xét lành dữ đời nay thiệt giả, nhiều ít, lớn nhỏ, trừ cấn, hoặc trả lại đời nay, hoặc để dành kiếp sau hoặc trả cho con cháu nó. Việc báo ứng theo luật âm, hoặc sớm muộn, hoăc kín đáo, hoặc rõ ràng; chắc không sai một mảy. Cái ý nhiệm mầu, người biết sao thấu?”  Tâu: “Sao gọi là đời nay mà chịu trả nhơn quả kiếp trước?”  Phán: “  Như con nít mà bị té sông, lửa cháy, bị đâm chém, bị tật bịnh, hoặc cọp ăn, rắn cắn, ngựa đạp, xe cán, trâu báng, hoặc các việc rủi ro v.v... thì đời nay nó đã biết làm điều chi dữ đâu, mà bị trả hoạ, là vì trả hoạ kiếp trước. Lại còn học trò mới đôi mươi, mà đi thi đỗ, hoặc là con dòng mà đặng thế chức, hoăc hưởng tổ ấm, phụ ấm, hoặc các việc may mắn thinh không, v.v... thì đời nay tuy chưa làm lành, mà đặng hưởng phước, ấy là trả lành kiếp trước. Coi đó mà suy, thì hiểu lành mà mắc hoạ, dữ mà đặng phước là tại cớ ấy.”  Tâu: “  Nếu người lành lên Thiên đường hết, cũng không luân hồi, thì trong đám đầu thai chẳng là không có người lành sao? Còn kẻ dữ đều cầm địa ngục, cũng không luân hồi, thì trong đám đầu thai không có kẻ dữ rồi!.” Phán: “  Người lành cũng có khi luân hồi một hai, là vì mười phần lành, còn chưa trọn lành một phần, thì cũng cho đầu thai xuống cõi trần chịu cực một phen, cũng như tu thêm cho trọn lành, rồi mới được về Thiên đường, ấy là trời lấy lòng tốt mà bó buộc người lành đó. Còn kẻ dữ có khi một đôi người đặng luôn hồi, là vì mười phần dữ chưa trọn, nên cùng dung chế, cũng cho luân hồi, chịu cực trăm bề, hành phạt một phen cho đến thế, làm cho biết ăn năn chửa lỗi, ấy cũng nhơn từ của Thượng đế như lòng mẹ thương con không nỡ giết đứa dữ.”Tâu: “Bắt người lành đi đầu thai, thì người lành khổ lắm,! Còn kẻ dữ cũng được đầu thai, thì kẻ dữ rất may chăng? Sao trời không phân biệt?”  Phán: “Không phải vậy đâu! Cho người lành đầu thai hưởng giàu sang vinh hiển, là Thiên đường tại đời, sao gọi chịu khổ? Còn cho kẻ dữ đầu thai, chịu khó hèn, tai nạn, cũng như địa ngục tại dương gian, sao gọi rất may? Huống chi người lành hưởng cảnh thuận, nếu tu nhơn tích đức thêm, thì lên Thiên đường. Nếu hưởng phước giàu sang mà làm dữ quá, trừ hết phước dư tội thì cũng không siêu được. Nếu kẻ dữ bị cảnh nghịch tai nạn mà biết ăn năn vì lỗi trước, lo tu đền tội, thì cũng hết khổ, bằng không tu thì đoạ địa ngục Đả ưng, hết trông đầu thai nữa. Coi đó thì đủ biết sự hoạ phước tuy là trời định, song lòng người lành dữ cũng đổi dời, việc may rủi tuy ở số phần, mà lòng ngưởi ở dữ lành cũng đổi số mạng. Cho nên hoạ phước số mạng không chắc gì, do tại làm lành làm dữ mà đổi dời hoài.”  Tâu: “  Như vậy Thiên đường Địa ngục siêu-đoạ là tại lòng người muốn tự do làm chủ.Nếu tôi là người không làm chủ cái tâm tôi, ấy là: Thiên đường nọ, có đàng chẳng bước; Địa ngục kia không cửa lại tìm!. Phán: “  Phải, xét lại người là người sẽ lên Thiên đường, nên lòng mau tỉnh như vậy.”  Nói chuyện dứt rồi, Phán quan tâu: “Các phạm hồn tựu đủ hầu tra.”  Vua xem lời phê của vua Tây Nhạc rằng: “Bọn Từ Húc, cộng 752 hồn, đang đầu thai.”  Vua đều phê cho chúng nó được giải qua vua Đông Nhạc lãnh tờ đầu thai hưởng phước. Coi qua lời phê trọn lành ba hồn được siêu, kể ra sau nầy: 

    1.           Một nàng thiên nữ là Liễu Thị, chí hiếu với mẹ chồng nuôi con đau cực khổ, lại hay bố thí, cho kẻ tù ăn: xuất tiền sửa cầu đắp đường, làm nhiều việc lành, không nói một lời tổn đức, chẳng làm một điều chi hung dữ. Lại ăn thâp trai đã mười năm và hay tụng kinh Phổ Môn nữa. 
    2.           Một tên thiện dân là Dương Thăng, thảo cha mẹ, thương anh em chị em, cung kính kẻ lớn, ở nhơn từ rộng rãi, hay thương người. Không ănn gian một đồng tiền, chẳng tham lam ngân lượng bạc. Cứu người ngặt nghèo, giúp người gấp rút. Vài trăm người nhờ ơn giúp giùm, mấy chục nhà nhờ tay cứu sống. Công ơn bố thí lớn lắm. 
    3.           Một vị thiện sĩ là Trương Quan Diện ở huyện Võ Lăng, tuy nhà nghèo, mà thủ phận, cực khổ mà bền lòng. Đặt sách vài trăm cuốn, đều nói chuyện khuyên đời. Dạy học trò giữ nhơn nghĩa làm đầu, kết bạn hữu ngay tín làm gốc. Tuy chẳng an lạt mà lòng lành như ăn chay. Tuy chẳng niệm Kinh, mà lời hiền như niệm kệ, lòng mình sạch sẽ, lời nói chẳng dữ hung. 

    Ba vị ấy đều đáng đầu thai về Tây Phương, được liên-hoa hoá thân bực thượng (như Na Tra khỏi cha mẹ sanh nữa ).

    Vua xem lời phê của vua Tây nhạc rồi, phán rằng: “Mau vời Kim đồng Ngọc nữ đem tàng phướn báu, xuống rước ba hồn qua Tây phương ( Kim đồng rước hồn nam ). Ngọc nữ rước hồn nữ ), còn tại ti nầy, phải nổi trống trổi nhạc, thắp hương, chưng hoa, sắp đặt bạc -tiền mà đưa ba vị ấy. Còn các hồn phạm tội, chiếu y theo số thứ tự trong đinh bài, dẫn vào trẫm xử.”

    Phán quan tâu rằng: “Hồn phạm số thứ 1 là họ Dư, ở huyện Huỳnh châu, tú tài thi đỗ cử nhơn, hai khoá đậu tấn sĩ, đặng bổ chức tri huyện, huyện Tú thuỷ, trào Thanh, lên lần tới chức chủ sự sở hình bộ, sau làm chức lang trung sở công bộ; lại sang qua chức thị lang sở hộ bộ, rồi qua sở lại bộ đặng năm tháng mới thác. Tra án tên phạm nầy, từ ngày đỗ tú tái tới làm huyện, không làm một mãi lành, đến làm sở hình bộ, giết oan 13 mạng. Làm sở công bộ, ăn hối lộ rất nhiều. Làm sở hộ bộ, ăn hối lộ nhiều bạc lắm. Sau lên sợ lại bộ càng dạn hơn nữa, bán chức quan mà ăn, miễn đầy túi mình, không cần ai khóc. Tội nầy đáng đoạ Địa ngục A Tì, không đặng đầu thai.”Họ Dư đứng dậy bái và tâu rằng: “Tôi đã làm quan lớn, xin Vương gia châm chế cho tôi còn thể diện.” Vua nạt và phán rằng: “Khốn kiếp! Dương gian trọng người chức lớn, tại Âm phủ trọng đức chớ chẳng trọng tước quờn; kẻ đức hạnh lớn, dầu ăn mày trẫm cũng kính nể. Nay ngươi còn ỷ thế làm quan mà cự với trẫm sao? quỉ Dạ xa lấy chùi sắt mà đập đứa nầy cho chí tử.”Họ Dương tâu rằng: “Tôi có ăn thập trai, tụng kinh Chuẩn đề.”  Phán rằng: “  Ngươi ăn thập trai niệm chú Chuẩn đề, mà cầu công danh bền bỉ. Ngươi phải hiểu nghĩa hai chữ Chuẩn đề. Phàm ngừơi muốn cầu giàu sang công danh, hoặc cầu con, cầu trường thọ, thì phải chừa mười điều dữ là: chẳng kính trời đất, chằng kính tam quan, chẳng thảo cha mẹ, chẳng thuận anh em, chẳng ngay vua chủ, chẳng tin thiệt, chẳng lễ nghi, chẳng xử nghĩa phải, chẳng thanh liêm trong sạch, chẳng biết hổ thẹn. Đã chừa mười điều dữ ấy, lại còn ở theo luậ Công-quá-cách, mổi ngày tụng kinh Cảm ứng cho nhớ mà sửa lòng, không dám hở một bữa, chẳng dám tính một điều trái lẽ. Như vậy thì ăn thập trai, niệm chú Chuẩn đề cảm động lòng trời. Còn ngươi bầy lâu làm dữ nhiều điều, cứ bia tiếng Chuẩn đề, mà trông trả phước, là theo ngọn, chẳng giữ gốc, mà cảm động vào đâu? Nhằm ngày thập trai, ngươi quên ăn mặn lỡ, bữa khác ăn tray mà trừ, hoặc đám tiệc chúng ép, thì ngươi đình ngày chay mà ăn mặn. Theo phép đã ăn chay, thì không lẽ ăn bữa khác mà thế ngày quên, cũng không đặng xả đỡ ngày chay mà ăn mặn. Nếu thế hoặc xả thì không phải lòng thành, còn kể chi nữa? Ăn chay thập như ngươi đó, lại càng thêm tội, đừng cãi nhiều lời! Mau dẫn nó qua A Tì địa ngục

    - - - - - - -


    Kêu số thứ nhì họ Tần, ở huyện Hớn Dương, Tú tài thi đậu tấn sĩ, làm quan tri phủ, phủ Thái Nguyên, ba năm mới thác. Phạm nầy khinh dễ bực thiên đình, không kể mạng người, trấn nhậm ba năm, ăn hối lộ tới mười mấy muôn trượng, không cần việc nước. Đời nay ngươi đặng thi đỗ làm quan, là vì kiếp trước là thầy chùa, có công dọn đường núi và đắp lề vài trăm trượng ( vài ngàn thước mộc ). Nào hay đời nay đổi lòng tới thế, mà phụ ơn Ngọc Đế ban thưởng!

    Phán quan đọc án rồi. Họ Tần tâu: “Tôi khi sống mê muội không dè có việc Địa phủ xự tội như vậy. Nay mới ăn năn tỉnh lại. Trong nhà tôi còn vài muôn lượng bạc. Nay thấy đền vua hư cũ, dưới đền nhiều hồn đói rách. Tôi tình nguyện dưng hết bạc mà tu bổ đền vua, còn dư thì bố thí cho hồn đói mà đền tội chẳng biết ý vua định thế nào?”  Phán rằng: “  Nay ngươi ăn năn đã muộn quá! Đền Âm phủ của trẫm, há dùng của vạy-vọ mà tu bổ sao? Còn ngạ quỉ ( ma đói ) là tại chúng nó khi sống làm dữ nay phải chịu khổ, ai cần bố thí cho nhọc công. Huống chi lúc người còn sống, hay kiếm mưu nầy thế kia mà thâu của cho nhiều, nào có thương ai đói mà bố thí. Phải chi người làm phước cho sớm, thì đã tiêu hết tội rồi, đâu có ngày nay mắc án. Mà lại vài muôn trượng đó, có phải của ngươi sao? Mười mầy năm trước, trẫm đã cho oan gian đầu thai làm bốn trai hai gái của ngươi, ngươi thác chưa đầy hai tháng, chúng nó theo đàng điếm bài bạc đã phá hết ráo sự sản rồi; ít lâu đây con trai ngươi sẽ đi trộm cướp, con gái ngươi sẽ vào lầu xanh, làm hư tiếng tông môn không tốt!”Họ Tần nghe qua động lòng khóc ngất, tiếng rống ồ ồ! Quỉ sứ lấy chùi đồng đập đùa, té xĩu tại đất. Giây phút tỉnh hồn, bị dẫn qua Địa ngục.

    - - - - - - -



    Phán quan truyền dẫn hồn kế đó vào nữa, đọc án rằng: “  Phạm hồn họ Triệu ở huyện Quỳnh Châu, trước làm thơ lại ( thơ ký ), sau lên chức huyện thừa tại huyện Vĩnh Bình mới chết. Hồi 18 tuổi làm dữ rất nhiều. Đến làm quan, ăn của chúng, hại mạng dân. Sai thâu thuế kẹp khảo dân nghèo. Lo vừa ý quan trên, khắc bạc dân dưới. Đáng ghét hai khoản nầy: Đi xét án nhơn mạng, cứ theo tiền mà làm thiệt giả, nghĩa là lo bạc thì quả bị giết cụng gọi là tự vận, không lo bạc thì tự vận cũng vu là giết. Còn xứ điền thổ hễ ai lo nhiều bạc thì đặng ruộng đất. Nên trong túi tham, đựng vài ngàn lựơng vàng. Bởi thế, khi còn sống đã phạt tuyệt tự, mà chưa hết tội. Nay trước nấu dầu, mà rửa hờn cho dân, rồi sẽ cầm địa ngục A Tỳ không đặng đầu thai nữa.

    Họ Triệu tâu: “Lời xưa nói: “  Vì nghèo mới làm quan. Như vậy ăn của dân cũng là phải. Nếu buộc sự ăn hối lộ mà làm tội, thì kẻ làm quan lấy chi mà nuôi gia quyến và đãi quan khách, của đâu mà đi lễ quan trên?”  Phán: “  Như minh oan cho người, hoặc lấy lẽ ngay mà xử cho trúng phép công bình theo luật. Kẻ khỏi hàm oan, người ngay khỏi bị hại, người cám ơn vì xử công minh, nếu chúng nó giàu có cảm ơn, nên vui lòng mà cho tới bạc ngàn, mình cũng không lỗi. Chớ như không lợi ích cho người chút nào, lập thế bày mưu mà ăn tiền, thì oan ức người ngay lắm tội biết bao nhiêu. Ngươi nghĩ thử, những của ngươi ăn đó, có phải nghĩa công bình chăng? Người ta có vui lòng tình nguyện đền ơn cho ngươi chăng. Có đáng công ơn theo lẽ minh oan, tự nhiên mà người cho chăng? Phải là kiếm cơ lập thế mà cướp của người chăng? Ngươi còn già miệng chữa mình sao?”Họ Triệu tâu: “Tôi có ăn chay vía tam quan ( là ba rằm lớn, tam ngươn: rằm Tháng giêng vía Thiên quan, rằm tháng bảy vía Địa quan, rằm tháng mười vía Thuỷ quan ) thiệt là trong ba vị tam quan đại đế bảo hộ. Nào hay bây giờ bị hoạn nạn nầy, ba vị tam quan đại đế, sao chẳng đến mà cứu tôi!”  Phán rằng: “Lời nói dữ ấy, tội đáng bằng hai, lấy bàn sắt vã miệng nó mười cái? Ba vị tam quan đại đế là Thiên quan, Địa quan, Thuỷ quan, ba vị thần ngay thẳng, phò hộ ngừơi lành. Người làm lành, tuy chẳng ăn vía ba rằm lớn ngàu cũng thêm phước, há bảo hộ ngươi là bọn không nhơn nghĩa sao? Nếu người làm lành mà ăn chay, thì chay ấy giúp thêm việc lành. Nếu làm dữ mà ăn chay, là giới việc an chay mà làm dữ, sao dám nói hồ đồ? Truyền dẫn qua ngục.”

    - - - - - -


    Phán quan đọc án kế: “Họ Châu ở huyện Đông Thành, qua ngụ đất Hớn Khẩu, nổi lò thợ bạc, hay chế bạc thấp, bạc giả mà hại người mất tình nghĩa, hư thể diện; làm tội nhiều lắm. Trừ ra một tội đáng giết là: Một người buôn bán ở huyện Kỵ Thuỷ đem một trăm ba chục lượng bạc lọc có dư, mướn y nấu ra bạc chín ( nghĩa là bạc mười nấu ra bạc chín, chín chỉ bạc pha một chỉ đồng ). Nó lấy hết phân nửa bạc lọc pha đồng phân nữa, nầu ra bạc năm, kẻ buôn bán lầm sau buôn bán nửa đường mới hay bạc năm bị lỗ tức mình mà chết. Tuy ngươi ăn gian sáu chục lượng bạc lọc, bị thời khi uống thuốc đã hết tiền hết bạc, mà còn hỡi còn. Tra bộ trõn đời ngươi, không có điều lành mà trừ cấn; nên truyền dẫn qua hoả thành ( thành lửa ) mà thiêu trọn một tháng, cho người bớt tức. Rồi giam vào địc ngục, không đặng luân hồi.

    - - - - - - -


    Phán quan đọc án kế: “Họ Tiền, ở huyện Ma Thành, xóm Trịnh Gia, làm cai trong huyện ấy. Cả đời hay xúi chúng kiện thưa mà ăn chia của đem lo. Nó có xúi người cháu chồng, kiện thiếm dâu va thủ tiết, đoạt sự sản của thiếm dâu, mà ăn lo lót ( ăn chia ) hơn năm trăm lượng bạc. Tiết phụ bị hiếp, tức mình phải bịnh mà chết! Huống chi còn nhiều tội dữ khác, có lẽ nào mà đặng đầu thai, dẫn nó quăn lên núi đao mà trị tội.” Họ Tiền tâu: “Tôi có cử sát sanh sáu bảy năm, nhờ ơn vua dung chế.” Phán: “  Người đừng nói khào! Đã biết cử sát sanh là việc lành, sao ngươi biết tiếc mạng vật, mà chẳng thương biết mạng người? Ngươi thuở nay xúi kiện cáo, tranh đua việc quấy, lại chẳng biết mấy mạng. Cứu sống mạng vật mà giết chết mạng người, ấy là không phân gốc ngọn lớn nhỏ Thương Đế có vì sự nhỏ mọn ấy, mà tha tội lớn hay sao? Huống chi ngươi cử sát sanh mà làm mặt tốt, mua danh lành, chớ không phải lương tâm chẳng hở. Song ngươi kêu nài lắm, trẫm tha khỏi cầm ngục đao sơn, cho được đầu thai mà phải làm con nhà nghèo, mang hai tật câm và quáng, đi ăn mày trọn đời, nếu biết thân mà giữ bổn phận đền tội mãn đời, sau sẽ nghĩ lại.”

    - - - - - - -


    Phán quan đọc án kế: “Họ Thơ ở phủ Thừa Thiên, con chức Điển sử, bổ làm thơ lại ( thơ ký ) tại phủ. Ba mươi tuổi mà chết. Hồi xuân xanh đánh bóng quến người, phá của chúng, hại mạng người, không biết bao nhiêu tuy tại chúng nó đắm sa, song cũng tại ngươi tham của mà quyến luyện; không thể nào dung tội ngươi được.

    Huống chi ngươi trưởng thành lại càng đắm sa tửu sắc lấy vợ con người, chẳng biết bao nhiêu mà kể. Nếu nàng nào không thuận, thì lấy thế quan, mà vu hoạ hại người! Cho nên vào nhà nào, phụ nữ cũng sợ oai mà chịu hiếp. Tội dâm ác thái quá, giết cũng chưa vừa, đáng giam vào trong ngục đao kiếm.” Phán quan tâu: “Tên tội này có hiếu với mẹ lắm. Mẹ ngoài sáu mươi tuổi đau nặng. Y sắc thuốc nếm rồi mới dâng, đêm nằm không cổi dây nịt. Vài tháng như vậy con mẹ bịnh ngặt, ăn không đặng, y cắt thịt bắp vế nấu cho mẹ uống đỡ nước cho bổ, sống rán vài ngày như vậy cũng nên rộng dung chút đỉnh.” Phán: “Thượng Đế tuy ghét tội dâm ác lắm, mà rất trọng con thảo. Bởi nó biết nuôi cha mẹ là hiếu, mà chẳng biết giữ mình mới trọn hiếu. Trẫm tha cầm ngục đao kiếm, lại đặng luân hồi, song làm điếm lầu xanh mà đền tội dâm ác. Nếu sau biết ăn năn sẽ nghĩ lại.” Phán rồi cấp điệp ( giấy ) qua cho vua Đông Nhạc mà đầu thai.

    - - - - - - -


    Phán quan đọc án kế: “Họ Tôn ở huyện Võ Xương, 19 tuổi cải họ Trương đi lính hầu tại phủ. Đã hay bợ đỡ quan phủ, lại thạo bua việc. Lớn mật dạn dĩ, gian hùng hẳn hoi. Hầu việc các dinh, ông quan nào cũng bị y nói gạt hết. Đến đổi mạng người sống thác, đều tại tay y; việc phải quất đặng thất, đều tại miệng nó. Sự dữ đã đầy, tội đếm không hết. Luận tội dương gian khó thứ, luật hình âm phủ không dung. Mau dẫn qua địa ngục Đao san.” Họ Tôn tâu: “Tôi có dùng năm chục lượng bãc mà thếp vàng cho Phật tại chùa Báo Ân. Lại cúng bạc dầu thắp đèn ăn chay, niệm Phật Di Đà một ngàn câu.” Phán: “Đời khốn nà! Nếu làm dữ, sau biết ăn năn chừa lỗi, làm phước niệm Phật, trời thì trời tha tội. Có đâu mượn tiếng cúng chùa niệm Phật, mà làm dữ thẳng tay, Phật Di Đà há giúp sức cho người làm dữ sao? Ví dụ: Kẻ vì tửu sắc sanh bịnh, uống thuốc bổ dưỡng lại. Nếu cử tữu sắc, thì uống mới hay. Nếu mê sa tữu sắc như xưa, thuốc bổ sao cho lại tửu sắc? Lẽ nào thuốc giúp sức cho kẻ tữu sắc nỗi? Dẫn nó qua ngục cho mau, đừng để cãi rán?

    - - - - - - -


    Phán quan đọc án kế: “Họ Ngô, ở huyện Huỳnh Cang hồi nhỏ đi học, thi khoa tú tài không đậu, học qua nghề viết đơn mướn.” Vua phán: “Xưa nay kẻ viết đơn thưa kiện, không có ai hiền lành bao giờ.: Họ Ngô tâu: “Tôi là kẻ đại thơ cứ viện cho kẻ dốt, chớ không làm điều chi dữ.”  Phán: “Kẻ bố thí chẳng phải tại của mà tại lòng; kẻ chém giết, tội chẳng tại gươm mà tại ý.Người đã viết đơn kiện cáo, trong ý tính nói bó buộc cho gắt như muôn ngọn lửa cháy lau khó dụt. Nghiên mực độc hơn ao huyết, ngòi viết bén quá lưỡi gươm. Đặt một chữ, phá nhà người rất dễ; sửa một nét, giết mạng chúng như chơi. Dưới lửa độc, đủ đồ roi kẹp; trên tờ đơn, đều cửa ngục hình. Sưa đi còn sửa cho hay, buộc trước lại buộc sau cho gắt! Kẻ quả tang muốn bắt cho mau người không tội quyết gài cho chắc. Có khi trợ tiên-cáo mà nói gián, gặp lúc binh bị cáo mà hại tiên-cáo ( nguyên cáo ). Nhiều lúc lời mà làm bộ giết tiên-cáo mà hại bị-cáo. Lòng độc như yêu khôn độ, mưu său tợ quỉ khó dò. Kể sao cho xiết sự tội ác của ngươi, mau dẫn qua mổ bụng rút ruột, hành cho đủ tam đồ, rồi sẽ giam hoài nơi địa ngục.”

    - - - - - - -


    Phán quan đọc án kế: “Họ Trần ở huyện Ky Thuỷ, bị án ăm trộm. Vua xem án rồi, phán rằng: “  Người may đặng làm người, sao theo trộm cướp?”Họ Trần tâu: “Tôi hồi nhỏ thiếu ăn thiếu mặc, cha mẹ, em út, kêu đói như bộng, vã lại năm thất mùa, lúa gạo mắc, xâu gao thuế nặng, cũng chẳng đã mới đi trộm cướp!”  Vua ngó phán quan mà phán rằng: “  Người nầy tuy là ăn trộm, song nói cũng phải lẽ. Hãy tra bộ sổ cho kĩ, coi lám các an ra thể nào?”  Phán quan tra bộ rồi tâu rằng: “Họ Trần có giựt đồ của kẻ buôn bán, đi ngang núi Mai Lảnh tại huyện Ky Thuỷ. Sau bị bắt nguội, giải đến quan họ Từ, vốn là người ở huyện Ngô, phủ Tô Châu, truyền y viết lời khai. Họ Trần viết bài thơ như vầy:

    Bất tu hiệp bát, bất tu xao,
    Nể tỉ xuyên du, thuật tánh cao!
    Xa thủ, thù nhơn can dữ nảo,
    Măn xang đô thị sát nhơn đao!

    THÍCH NÔM:

    Lựa là kẹp khảo, lựa là tra,
    Chước niệm nhà ngươi, xảo quá ta.
    Tay xá móc gan, rồi lấy huyết,
    Gươm đao đầy bụng mổ hằng hà.


    Quan huyện họ Từ xem thơ, rồi mới nói với các thơ lại rằng: “Chúng ta thiệt cũng như ăn cướp, còn muốn xử tội ăn cướp sao? Các thơ lại cai bếp quân lính đều đi bắt đầu này đầu kia, mà kiếm chác cho ta, thì cũng như bọn lâu la kiếm của tang cho chủ trại! Chi bằng ăn năn cho sớm, lo tu nhơn tích đức mà nhờ thân sau, cho khỏi mắc đoạ.” Các người nha dịch đều bẩm rằng: “Chúng tôi đã tập quen thói dữ rồi, và lại bị nuôi gia quyến, khó nỗi ăn năn chừa lỗi!”  Họ Trần tâu: “Có khó chi! Kẻ tu thân phải có can đảm trí huệ khác hơn người thường, cũng sấn sướt manh mẽ như lòng đứa ăn cướp, thì mới nên việc. Đứa trộm cướp dạn dĩ không sợ mới dám phá cửa mà giựt của người, dễ như trở tay, muốn làm sao thì làm vậy. Nếu quyết hồi tâm đi tu, thì cũng phải can đảm sấn sướt như vậy, thì dữ nào mà bỏ không rồi, lành nào mà làm không đặng!”  Nói rồi ngâm bài kệ như vầy ( nho kêu thi, Phật kêu kệ ):

    Cang đao bổn bất dẫn nhơn hung,
    Pháp khánh bất hội giáo nhơn thiện,
    Cang đao pháp khánh lưỡng bô tình,
    Chỉ thử nhứt tâm phân lưỡng nguyện.
    Hướng lai thất cước tự du du,
    Kim nhựt hồi đầu giai chiên chiến.
    Cải ác tùng thiên hữu hà nan,
    Tác đạo vi quan cu mạc luyến.

    THÍCH THƠ NÔM:

    Gương trừng bá giục ngực người làm dữ,
    Chuông tự nào khuyên thế ở lành?
    Chuông kiếm vốn không hiền mới độc,
    Tánh tình sẵn có trược cùng thanh.
    Xưa mê ngủ gục say vô độ,
    Nay tỉnh ăn năn sợ thất thanh,
    Chừa lỗi hồi tâm tu dễ quá,
    Ăn lo, ăn cướp bỏ thì thành.


    Khi ấy, nội nha môn: nhiều kẻ hồi tâm, từ chức đi tu mười mấy người. Phán: “Quả có công đức ấy, đủ chuộc tội trước: huống chi lấy của, chớ chưa hại mạng người, đáng giảm tội phân nửa. Đáng ghét tội giam dâm, vì no ấm mà sanh sự. Phải suy phần đạo tặc, bởi đói nghéo không đủ mà liều thân. Sự cùng mà biến, tội cũng đáng dung. Tha tội họ Trần, cho giấy qua vua Đông Nhạc lãnh phần đầu thai làm thầy chùa du phương tại núi Thiên Thai. Nếu chịu khổ hạnh tu hành, sau sẽ siêu độ.”

    - - - - - - -



    Phán quan đọc án kế: “Họ Trần ở huyện Viên Dương tự hồi nhỏ hoang đàng, làm biếng, làm cho cha mẹ lạnh đói khổ, ưu phiền sanh bịnh mà thác, vì con không cần kiếm mà dưỡng nuôi. Còn nó tới 49 tuổi cũng chết đói.” Phán: “Tuy nó không làm điều chi dữ lắm. nhưng mà làm biếng lại xài lớn. Những đứa trộm cướp, chẳng phải ham giết người lại đốt nhà làm dữ, đều bởi làm biếng lại xài to, túng cùng mới biến ra nghề ấy. Cho nên siêng làm và tiện tặn, thiệt là cội rễ nên nhà, mà cũng là gốc trau mình sửa nết nữa. Kẻ có nhơn, người quân tử, ai cũng cần kiệm. Tại người không siêng làm mà chẳng tiết kiệm, để cho cha mẹ đói lạnh mà thác. Như vậy không cần kiệm tuy là lỗi nhỏ mà tội không nuôi cha mẹ là bất hiếu khó dung. Dẫn nó qua pháp trường, mổ bụng lắc bao tử và móc ruột mà trị tội xài lớn. Rút cho hết các sợi gân làm biếng, mà trị tội bất cần. Nay cha nó đã đầu thai làm chức thơ lại tại huyện Thường Châu, ở sau Tây-môn, cho nó đầu thai làm heo của cha nó đặng bán lấy tiền mà đền tội bất hiếu đời trước.”

    - - - - - - -


    Phán quan đọc án kế: “Họ Khương ở Châu Hưng quốc, là nhà giàu bất nhơn, năm mươi mốt tuổi, bị dân nghèo là họ Hồ giết. Họ Khương giàu lớn hơn nội châu ấy, vựa lúa mà bán cho các lái khắp nơi. Nội xứ chết đói vì trong năm thất mùa, họ Khương chẳng thí cho nhà nghèo một nắm lúa gạo. Khi ấy quan phủ, quan huyện cho mời y, bảo bố thí cho dân đói, y lo hối lộ cho khỏi bố thí. Đến nỗi bà con hoạn nạn chết đói, y cũng không ngó tới!”  Phán: “  Ngươi bình sanh trọng tiền bạc, chẳng hề cho ai vay mượn, lòng ở khắc bạt gắt gớm độc hơn tội giết người, không thể nào dung đặng.” Tâu: “Tôi mới biết gắt gao rít róng mắc tội nơi luật trời. Xin vương gia tha tôi về, đặng tôi cải ác tùng thiện, xuất hết của tiền lúa gạo mà bố thí cho dân nghèo. Xin vua rộng lòng y tấu.”  Phán: “  Ngươi còn trông sống lại hay sao? Kho lẩm trong nhà còn thuộc về của ngươi hay sao? Con cái ngươi đều là oan gia thiệt con đòi nợ chưa đầy một năm nó đã phá hết sự sản, không còn sót món nào!”  Khương nghe rõ khóc ròng than rằng: “Tôi bấy lâu chắc lót quyết để lâu dài. Cùng chẳng đã xuất một đồng điếu mau củi, hoặc mua rau (cải) cũng còn tiếc lắm. Ai dè con là tội báo cừu nhơn đầu thai vào mà phá hết sự sản tức biết chừng nào!”  Phán: “Cái tội gắt gớm cũng như tham gian. Trước giam theo ngạ quỉ, bỏ đói cho lâu. Sau sẽ cho đầu thai làm ăn mày, chịu đói rách mà đền tội bỏ đảy buột chặt.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Doản ở huyện Quy-đức làm thầy thuốc mập mờ, hốt thuốc pham chết vừa nam vừa nữ công mười một mạng. Tánh hảo ăn thịt trâu lắm, bữa nào cũng có thịt trâu mới chịu cầm đũa tội ấy cũng nhiều. Tuy trốn khỏi tội Dương gian, chớ lánh sao cho lhỏi luật Âm phủ.” Phán: Phạt nó đầu thai làm trâu mười một kiếp, mà trừ tội phạm thuốc mười một người.

    Phán, quan đọc án kế: Họ Lý ở huyện Thần Châu, ròng nghề làm mai mối. Miễn có tiền mướn mà ăn, thì quyến dụ gạt con gái nhà lành, ở đợ, làm bé mà chẳng động, lòng thương. Đến nỗi làm mai con nít cho ông già, cột mối bà già cho trai nhỏ, bọn ấy không vừa ý, tức mình phát bịnh mà chết hết bảy người, vì không thể sanh đẻ nối đời đặng.”  Phán: “Bởi tội y nói xảo mà rù quến gạt người, nên bị án nặng. Truyền cắt lưỡi, bẻ răng, bỏ xuống hầm đời đời, cho oan hồn bớt tức.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Phùng ở huyện Miển Dương, là tên tá điền, năm nào cũng giấu bớt lúa mà đong chút đỉnh. Nếu năm nào mà trúng mùa, thì dem lúa ngâm nước một đêm mới đong lúa ruộng. Chủ điền tức mình, lấy ruộng lại cho người khác mướn, nó cũng thầy kiện không chịu giao. Nếu làm ra lẽ, để cho người khác mần, thì tới khi gieo mạ, giống lúa sớm nó lén vải lúa muộn vào, hoặc lúa muộn, vải lén lúa sớm vô, lộn lạo cho thất mùa, phải bỏ cho nó mướn. Tội hung dữ ngang ngược thái quá không phải tầm thường. Đáng phạt đầu thai làm đứa ăn mày bạt xụi, mà đền tội ngang tàng kiếp trước.”

    Họ Phùng tâu: “Tôi có thấy chỉ dụ của Vương gia, phàm dân ruộng rẫy, đều cần kiệm cực nhọc, dầu có tội gì nhỏ mọn đều rộng dung. Vậy xin vương gia ân xá.”  Phán: “Kẻ lo làm ruộng tay chưn mỏi nhọc không hở, ăn uống, cực khổ dư ra thì bán cho đời, thiên hạ đều nhờ công lao kẻ làm ruộng. Vậy mới có công với đời, nên tha lỗi nhỏ. Có đâu tham gian độc dữ như ngươi, đừng có nói nhiều chuyện, quỉ sứ dẫn đi giải cho mau.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Uông ở huyện Than Âm cha nó ăn chay làm lành, nó chẳng nghe lời cha dạy. Cả đời làm nghề đánh cá, mỗi ngày bắt cá chạch, lươn, tôm, trạnh cua đinh, không biết bao nhiêu mà kể. Cha nó có quở la thì nó cự và mắng lại như ăn cơm bữa, song nó có hiếu với mẹ lắm, mẹ nó đau, thì lo chạy thang thuốc, nuôi dưỡng hết lòng. Bởi cớ ấy, nên Táo quân có tâu với thượng đế cho trừ án nặng.”  Vua ngó phán quan mà phán rằng: “Tên nầy trái lòng nhơn của thượng đế, vì lòng trời muốn người vật sanh ra cho nhiều không muốn giết hại.”Rồi day lại, quán quở rằng: “Loài cá trạnh cừu oán chi với ngươi, nếu có việc chi phải lẽ như là cúng ông bà, nuôi cha mẹ, cùng chẳng đã bắt đờ mà dùng. Vậy nên đức Khổng Tử, câu mà chẳng lưỡi cũng thể theo lòng nhơn của trời. Nếu chài lưới đánh như ngươi, mà nhiều người làm như vậy, thì không còn sót tôm cá lươn trạnh. Nếu tính mỗi mạng vật, cho ngươi đầu thai mà thường mạng, thì muôn đời cũng chẳng dứt nợ oan trái ấy. Lại thêm mắng cha, tội lớn thấu trời, mau dẫn qua địa ngục.” Phán quan tâu: “  Vương gia thường trọng chữ hiếu, tên này cơn mẹ bịnh, nuôi dưỡng lo chạy hết lòng, khi mẹ liệt, nó lóc thịt bắp vế mà nấu cháo cho mẹ ăn bổ cầm hơi, cũng nên trừ cấn.”  Phán: “Bất hiếu với cha, mà chí hiếu với mẹ, trẫm cũng rộng lượng cho trừ. Tính một tội đánh cá, cho đầu thai làm một đứa hung hoang, hai mươi tuổi bị quan xử trảm.”

    Phán quan đọc án kế: Họ Trần ở Hớn Trấn, lòng xảo trá mưu kế không lo nghề nghiệp làm ăn. Hằng ngày rủ ren con em nhà lương thiện đánh bài bạc mà lấy xâu và ăn gian ăn lận nữa, đến nỗi nhiều người tán gia bại sản, mà thói dữ cũng không chừa. Lại lập thế bắt con gái nhà nghèo làm hầu thiếp, (như lập thế tiền trái hậu mãi). Hai tội nhập một nặng nề.”  Vua phán: “  Nghề bài bạc hại người độc hơn nước lửa trộm cướp. Nếu bị thua quá, thì phải bỏ nghề nghiệp, đổi lòng ngay, gái trai cũng hư danh thất tiết, tới nỗi tan gia sản, liều thân mạng.

    Ngươi tai mắt không thiếu đủ tay đủ chưn, sao không học nghề nghiệp làm ăn ngay thẳng, mà chi độ cho qua ngày. Trên làm tên dân không phạm luật triều đình, dưới làm người phải, khỏi nhơ danh tổ phụ. Nghĩ nào dùng tai mắt mà làm quấy, lo mưu kế mà gạt người. Cái thân hữu dụng, làm tội vô cùng. Khác nào: ăn thịt người cho no bụng, phá nhà chúng đặng vui lòng. Cho phải trả. Tuy phạt người tuyệt tự, trừ mưu bắt chúng mà làm hầu. Chớ tội chứa cờ bạc, không thế nào trừ đặng. Quỉ sứ chặt mười ngón, và hai tay, rồi mổ bụng móc tim rút ruột. Rốt lại cầm hoài nơi Địa -ngục, không đằng đâu thai.”Họ Trần tâu: Tôi tối dạ đi học không nên, tập bài bạc kiếm tiền dễ lắm. Lỡ vào nghề đó, sanh gian sanh lận. Song ăn thì vừa, thua thi trả, hai bên tình nguyện như nhau. Chớ tôi không giựt của, xin Vương gia dung thứ.”  Phán rằng: “Rủ ren kẻ thiệt thà, ăn gian ăn lận, dầu anh em cũng quyết lột da, huống chi bằng hữu mà không mở mật. Khiến người mất của, ngươi mới đẹp lòng. Ai dại gì tình nguyện đem của mà cho ngươi, cũng tại ngươi lập thế thần mà đánh bẫy, ngoài chuốt ngót nói lời ngon ngọt, làm như thiết nghĩa ruột rà, nào là đãi ăn, nào là phục rượu, nào là dem nữ sắc mà quyến luyến cho mê sa. Ấy là trăm mưu ngàn kế mà gạt người, tộc ác dường hầy mà bỏ luật dung tha sao cho đặng? Quỉ sứ cứ việc dẫn nó đi.”

    Phán quan dọc án kế: “Họ Lý ở huyện Hoành Dương đi lính tập theo quân Du kích. Còn họ Du, huyện Huỳnh Mai cũng đi lính tập theo sở cầm cờ đánh trống. Còn họ Thanh cũng ở huyện Huỳnh Mai, là lính pháo thủ của quan đề đốc họ Lý tự Giang Tư. Ba tên ấy đều có đánh giặc.”  Vua phán rằng: “Quân lính trong đội ngũ chinh chiến, tay cầm gươm súng, lòng tập hung hăng, thắng trận thì bắt vợ con người ta, thậm chí ăn thịt người nữa. Tội ấy chẳng hèn đồng quăng lên ngục Đao sơn cho đáng kiếp.” Phán quan tâu rằng: “Họ Thanh lúc phá thành Dương Châu, bắt đặng ba người mà chẳng giết. Bắt đặng hai người đàn bà mà chẳng động tới, đều trả lại cho chồng: 2 người chồng đền ơn bạc tiền, y cũng không chịu lấy. Hai khoản ấy phước phần chẳng nhỏ. Huống chi mỗi tháng ngày rằm với mồng một, ăn chay tụng bảy biến kinh Cao Vương.”  Phán: “Có công đức như vậy, trẫm cũng đáng kính đáng khen, cấp điệp cho họ Thanh, qua vua Đông-nhạc, mà đầu thai làm chức quan văn thất phẩm, sống bảy mươi chín tuổi, không bịnh mà mãn phần, con cháu hai đời đều đặng công danh vinh hiển. Còn hai hồn linh kia xử y án trước.”

    Phán quan đọc án kế: “  Nàng Tiền mẫu Nương ở huyện Gia ngư, ghen dữ và ngỗ nghịch với cha mẹ chồng.”  Vua phán: “  Nội một tội bất hiếu với cha mẹ chồng, cũng đáng cầm ngục A tì, còn luận lành dữ nó làm chi nữa.”  Nàng Mẫu Nương tâu: “Tôi không dám bất hiếu với cha mẹ chồng, mà tôi còn ăn chay bố thí nhiều lắm.”  Phán: Dầu ăn chay bố thí như vậy, cũng chuộc không nổi tội bất hiếu với cha mẹ chồng. Song nghĩ người ăn chay bố thí, nên tha tội xay giã mà thôi giải qua giam vào Địa ngục không đặng đầu thai mà răn những nàng dâu ngỗ nghịch.”

    Phán quan đọc án: “Nàng Châu tú Nương, ở phủ Thừa thiên, có chồng mà lấy trai, ấy là tội nặng. Lại thêm hại một mạng mọi gái.” Phán: “Đàn bà có đức chính chuyên một chồng. Tánh nết phụ nữ, phải hiền hậu lành, mới phải đàn bà đức hạnh. Ngươi là con khốn, không biết xấu hổ không giữ chính chuyên, lấy trai lang chạ; là bởi ham ăn làm biếng không lo việc nữ công, ăn no ở không, mơ tưởng việc dâm dục, tham ăn thịt mê uống rượu, lại đánh bóng trang điểm, bán dạng thuyền quyên, làm con trai đê mê mẩn mang tiếng xấu danh nhơ, mi đã thất tiết xấu xa, hại chồng mi mang nhục, hư thể diện cha mẹ tông môn của mi, không cần con cháu hổ thẹn. Tuy đội lốt người, mà khác nào súc vật. Lại còn độc ác, hại mạng mọi gái. Sao không biết xét, mọi gái cũng có cha mẹ sanh thành, bởi kiếp trước nó không tu, nên đời nay hèn hạ mi nết xấu cũng như là đứa hèn, mà được sai khiến đứa hèn là quá phép. Nỡ nào không có lương tâm, mà đành đoạn hại mạng nó? Mau nấu dầu mà trị tội lấy trai và cho hồn oan con mọi hết tức. Rồi cầm hoài Địa Ngục không đặng đầu thai.”

    Phán quan đọc án kê': “Nàng Thành sửu Nương huyện Thanh âm hay xúi chị em bạn dâu lối xóm rầy lộn, hại con gái xóm ấy hàm oan tức mình thắt họng mà chết. Lại hay bảo mấy nàng thủ tiết lấy chồng. Đẻ con gái năm lần, đều trấn nước chết hết.”  Phán: “Hại một người dưng thì thường mạng 1 kiếp nếu mà hại một mạng ruột thịt, phải thường mạng hai kiếp. Truyền quỉ sứ dẫn hồn con ma thắt họng, và năm con ma da nhỏ, kéo nó xuống ao nước, cho bớt giận một hồi. Rồi bắt lên, cắt lưỡi mổ bụng móc ruột, không cho đầu thai, cầm hoài nơi Địa ngục, mà trừ cái tội khuyên tiết phụ cải giá và xúi chúng rầy rà.”Sửu nương tâu: “Chẳng phải tôi ham khuyên cải giá làm chi. Bởi thấy chúng nó còn tơ mà nghèo khổ, lại không con, thủ tiết ích gì, chi bằng cải giá cho qua ngày: ấy là lòng tốt của tôi.”  Phán rằng: “Ác phụ không biết phải quấy! Đàn bà may rủi một đời, nếu chồng thác, thì phải thủ tiết. Thượng đế càng kính vì tiết phụ. Dầu có chết đói, ngàn muôn năm cũng ngợi danh thơm. Nếu nó muốn tái tiện, ngươi cũng phải cản trở, mới là lòng tốt. Sao bảo nó cải giá, làm cho nó mang tiếng thất tiết trọn đời. Người đừng cãi sướt nữa. Mai giải đi hành tội.”

    Phán quan đọc án kế: “Lý Khải Nương là con đầy tớ nhà Mễ. Làm đổ gạo cơm trong bếp, dính trên miệng lò, huỷ hoại của trời hơn mấy năm kể chẳng xiết (là đổ đồ ăn). Hay ăn vụng ăn cắp của chủ, mà đổ thừa cho người, hại con đầy tớ khác phải đòn. Hay lấy bậy và dắt trai vào nhà, tư tình với chủ gái; tội ấy đã nhiều. Lại hay cải giá, tính đã ba đời chồng, tội nặng quá lẽ.”  Phán: “Ngươi kiếp trước làm nhiều điều dữ, nên phạt người làm tôi mọi. Sao không biết xét, tuy là người mà làm mọi cũng như ngạ quỉ súc sanh bị cầm Địa Ngục, ba điều khổ ấy, hỡi còn chưa biết ăn năn tu mà nhờ kiếp khác.”

    Phán quan tâu: “Mọi gái cũng con người, sao gồm ngạ quỉ súc sanh Địa ngục?”  Phán: “Tôi mọi ăn uống không đặng tử tế, khác nào ma đói. Không ai lễ mà đãi, nào khác súc sanh. Không được có chồng sanh con, thường bị cấm cố, khác nào cầm ngục. Nay không chừa lỗi, còn xử thêm cách nào, phải hành cho đủ tam đồ mới đáng không đặng đầu thai.”

    Phán quan đọc án kế: “Lưu thất Nương ở huyện Quế Lâm bốn mươi tuổi mà không con, tánh đa dâm và ghen lắm! Chồng muốn cưới thiếp. Thất nương không con. Chồng lén cưới vợ bé, gởi lối xóm. Thất nương hay tin bắt vợ bé đặng, lấy bàn ủi ủi phỏng mình, lở thúi mà chết!”  Phán: “Cấm chồng cưới, cho tuyệt từ thờ mình, lợi ích chi đó.” Huống chi hành hình cách thảm mà giết người, chắc dung không đặng. Thất nương tâu: “Đàn ông không con, cho phép cưới thiếp, còn đờn bà không con, chẳng cho cải giá, việc ấy mất công bình, thiệt xử hiếp tôi lắm.” Phán: “Loài súc sanh không biết hổ ngươi, hãy còn cãi rán! Buông lời nói hư phong hoá, không biết hồi sống mi kềm chế chồng mi ra thể nào? Tánh đa dâm ghen tương như mi, đáng phạt đầu thai làm con điếm, ba mươi tuổi mắc ghẻ độc thúi lầy cả thân mình, bỏ thây dọc đường, chó heo ăn thịt cho bỏ ghét.”


    Phán quan đọc án kế: “Tào Thị là gái xằng, ở huyện Ngô Giang kế thất họ Chữ ở quận Trường Sa. Họ Chữ thác sớm. Tào thị khắc khổ con ghẻ trăm bề. Các việc ăn mặc đều thua con chung. Tới lúc tương phân thì chia phần hơn phần tốt cho con mình. Lịa khắc khổ dâu ghẻ, tới nỗi tức tối sanh bịnh mà chết!”  Phán: “Con ghẻ thờ mẹ ghẻ có hiếu cũng như thờ mẹ đẻ một thể. Sao mẹ ghẻ khắc khổ con ghẻ dâu ghẻ đến thế, thiệt là lòng như cầm thú, đáng đầu thai làm súc vật mới xứng tội.”  Phán quan tâu: “Tào thị đến già lòng thành niệm Phật và ăn chay cữ sát sanh ba năm ăn năn đền tội cầu siêu độ phần hồn.” Phán: “  Vậy thì khỏi đầu thai làm súc vật, song phải luân hồi làm tội mọi con dâu ghẻ, mà đền tội trọn đời.”

    Phán quan đọc án kế: “Mười lăm vị hoà thượng pham tội dữ.” Vua phán: Các sãi xuất gia đi tu, lẽ thì thành làm Phật tổ, cớ nào đeo đính bài tội dữ?”Mười lăm hoà thượng tâu: “  Nhờ vương gia từ bi dung thứ.” Phán rằng: “Các sãi có hay tờ điệp của Phật Thích Ca mới gởi đến đây chăng?”Đồng tâu: “Chúng tôi chưa hay.” Vua gởi điệp văn đọc lớn rằng: “Chùa chiền đời nay đã biến hư lắm, mối đạo Phật lưu truyền đã mỏn rồi, như ngọn đèn gần tắt. Các sãi tuy tiếng đi tu, thiệt nhiều người dối tệ. Trong một ngàn hoà thượng, lựa đặng chừng một hai người xứng đáng, không hổ thẹn mà thôi! Cõi Âm phủ phải tra xét cho hẳn hòi, đừng lầm các sãi dối thế.” Đọc rồi phán rằng: “Các sãi đã thấy điều luật của các sãi tại cẳu nầy chăng?”Đồng tâu: “Chưa thấy.” Phán rằng: “Để trẩm giảng các tội án trong điều lệ tu hành cho mà nghe. Các sãi tuy đi tu, mà trong lòng khác nhau hết: Có kẻ cự nghịch với cha mẹ, giận lẫy mà đi tu, là tội bất hiếu lớn thứ nhứt, còn nói làm chi! Có kẻ giận anh em vợ con mà đi tu. Có kẻ bị cách xấu, mắc cở mà đi tu. Có kẻ quyết trốn xâu lậu thuế, vì đói rách mà đi tu. Có kẻ mê cảnh chùa tốt mà đi tu. Có kẻ mê mấy sãi nhỏ có bóng sắc muốn nhập vào cặp xách mới đi tu. Có kẻ ham làm chức hoà thượng sang trọng mà đi tu. Có kẻ mồ côi không ai nuôi mà đi tu. Có kẻ vô hậu không ai hoạn dưỡng mà đi tu. Có kẻ ngán việc đời là cuội giả, mộ đạo Phật là siêu độ linh hồn mà đi tu. Các sãi ai tu về cớ nào thì khai thiệt? Các hoà thượng đồng tâu: “Xin vương gia từ bi thẩm xét, thiệt chúng tôi ngán việc đời, nên xuất gia đầu Phật mà cầu siêu độ linh hồn, chớ không có ý chi khác.” Phán: “Các sãi đời nào xưng tội, mấy thuở chịu khai!”Truyền chỉ Phan quan dẫn các sãi đến đài Nguyệt cảnh chiêu thử. Nguyên tại nhứt điện là cửa đền thứ nhứt: vua Tần Quảng có lập cái đài Nguyện cảnh phái bên hữu cái điện chánh. Đài ấy cao mười một thước, trên có treo cái mặt kiếng Nguyệt cảnh lớn mười người ôm mới giáp vòng bề tròn treo chiếu qua hướng đông, trên giá treo mặt kiếng ấy có để bảy chữ rằng:

    Nguyệt cảnh đài tiền, vô hảo nhân

    Thích nôm: Trước đài Nguyệt cảnh không người lành.

    Các hồn chối án, thì quỉ sứ dẫn lên đài, mà ngó vô mặt kiếng, thì thấy hiện nguyên hình từ nhỏ tới chết, làm những việc chi đều ứng hiện hình thù như hát bóng đủ lớp nhớ lại nên chối không đặng. Vua Tần Quảng mới y luật mà xử, hoặc giải qua chín cửa đền khác, vân vân....(8 cửa có ngục mà thôi).

    Khi ấy các sãi, từ người soi kiếng đủ mặt rồi coi lại không có thầy nào chơn tu mộ đạo cho thiệt tình! Coi ra ba sãi ăn mặn uống rượu. Một sãi tà dâm, hãm hiếp. Bốn sãi mê các đạo nhỏ thanh sắc. Bốn sãi tham bạc, ăn gian của chùa. Trừ ra có ba sãi, cứ sớm tối tụng kinh, công phu, cất chùa, lên cốt Phật, lơ làm công quả trông chùa, chớ không thông mùi đạo. Vua cười ngất phán rằng: “Hèn chi đức Thế tôn quở trách các ngươi làm hư trong đạo Phật!”Liền phạt một sãi gian dâm với bốn sãi mê đạo chúng thanh sắc, cộng một bọn tà dâm năm sãi, đồng giam vào ngục. Tăng nho mới lập, không đặng luân hồi. Còn bốn sãi rượu thịt, đầu thai làm heo bà kia ăn cám hèm cho đã. Lại còn bốn sãi ăn gian của chùa, phạt làm lừa ba đời, chở đồ đi xa mà đền ơn cho các chủ bố thí. (Tại tham của nên cho chở đồ nhiều mới toại chí!) Trừ ra ba sãi thiệt thà, tuy quyết chí đi tu mà chưa thông đạo vị, nên cho đầu thai làm thầy chùa mà tu nữa; nếu siêng tu hành rõ thấu ba bực thì cũng được khỏi đoạ. Đền giải qua vua Đông Nhạc, đi lại vua thứ mười. (Chuyển luân vương) đầu thai.

    Phán quan đọc án kế: “Họ Gia ở huyện Văn Mộng đưa đò dọc sông Bà Dương. Tháng chạp năm Nhâm thân, lén giết một người bộ hành lắy đặng ba mươi lăm lượng. Bị chúng cáo, quan tra không đủ cớ tha về. Sau mang bịnh nghèo khổ, đi ăn mày. Tới 38 tuổi, biết tội mình mới đi tu. Cứu trùng, kiến, nhiều lắm, lượm giấy chữ, cũng nhiều. Ăn chay làm lành thường bữa tụng kinh niệm Phật. Tu hai mươi năm như vậy, mà cầu tiêu tội sát nhơn, và nhờ phước kiếp sau.”  Phán: “May ngươi ăn chay làm lành, niệm Phật tụng kinh sáu hối (ăn năn cầu tiêu tội). Huống chi đã phạt làm ăn mày; đày đoạ đến kiếp, nên trừ tội giết người mà lấy của.”  Họ Gia Tâu: “Tôi trước đại phạm tội, sau ăn năn tu hành. Xin vương gia xét lẽ cho tôi nhờ.” Phán: “Ngươi hãy đứng một bên, đợi trẫm xử án khác rồi sẽ định.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Lâm huyện Bành Thạch ông cha có làm phước giúp người. Còn họ Lâm kiếp trước là thầy tu, ăn chay bố thí 545 đôi giày rơm, trời lạnh bố thí cộng 65 chiếc chiếu. Nên đời nay 23 tuổi mà thi đỗ cử nhân, đậu rồi không giữ lòng lành. Tư tình với Kim thục Cô là gái ở một xóm rồi bỏ, nàng ấy tức mình thắt họng mà chết. Vã lại nết tham, lãnh việc kiện mướn, đem mối kiện thưa. Ra vào chốn nha môn lo lót cho chúng, bởi cớ ấy, giựt được vài trăm mẫu ruộng trong làng. Ăn thập trai chưa đặng một tháng ngã. Lại nói: “Dẫu ngã mà kiếp sau làm ăn mày cũng chịu. Quan âm, Chuẩn đề đã phú Táo quân dưng sớ tâu trên Ngọc đế phân: “Bỏ lệ chay kỳ là phạm luật Phật, nên phạt tội”  Vua phán: “Ngươi nhờ đức tổ phụ và kiếp trước có tu, mà thi đỗ cử nhơn đáng lẽ tu thêm phước đức. Nào hay mê mụi, lung lăng làm dữ, lại nói ngã chay, nguyện làm ăn mày. Đáng lẽ cho hành đủ tam đồ. Song nghĩ ngươi thờ Quan đế với thờ Quan Âm hết lòng thành kỉnh, nên nay xử trảm, cho đặng luân hồi, thay hồn đổi xác, nhập vô thây ăn mày là họ Gia y theo lời nguyện. Còn Kim thục Cô đã đầu thai rồi làm con mọi xóm đồng. Ngày kia trước đi xin cơm tại nhà chủ nó cho nó đánh chết ngươi mà thường mạng thắt cổ hồi đó. Còn hồn họ Gia (coi án trước) nhập vào xác họ Lâm đặng làm cử nhơn, sống hưởng phước tới bảy mươi tuổi.”

    Phán quan xướng danh rằng: “Tôi hồn HỌ Hàng mười bốn tuổi.” Phán rằng: “Thằng nhỏ nầy, làm những tội chi.” Phán quan tâu: “Thằng nầy tuy còn nhỏ, mà chửi cha mắng mẹ hoài hoài. Tội hỗn ấy là tại cha mẹ nó cưng quá, nên nó quên nết hỗn hào, mang tội bất hiếu thấu trời. Khi nó đi học đạp giấy chữ tính tới 37.500 chữ có dư. Thường khi nó ăn cơm còn dư: đem đổ chỗ nhơ uế nữa.”  Phán: “Con nít không biết gì, ấy tại cha mẹ nó hư, thương là hại nó. Đã phạm luật trời, không lẽ dung đặng. Quỉ Dạ xoa giải nó qua thành lửa mà đốt, không đặng đậu thai.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Châu ở huyện Tiêu lương, làm hàng trâu bò. Họ Thẩm ở huyện Thạch thủ làm hàng chó. Họ Dương ở huyện Gia ngư, làm hàng heo.”  Phán: “Ba tên làm hàng nầy, đáng quăng vào Đao sơn Địa ngục.” Họ Dương khóc mà tâu rằng: “Tôi có ăn chay ba năm, theo kinh Huyết bồn. Vả lại làm hàng heo, nhẹ tội hơn hàng trâu bò và hàng chó. Xin vương gia xét lẽ tôi nhờ.”  Phán: “  Ngươi ăn chay theo kinh Huyết bồn mà cầu cho ai? Tâu: “Tôi cầu cho mẹ tiêu tôi.”  Phán: “Tuy theo kinh ấy là phi lý, huyễn hoặc, mà lòng có hiếu đáng khen. Song người có hiếu với mẹ, sao không bắt chước lòng nhơn của trời ưa sống, mà làm heo"? Tâu: “Xin vương gia xét lại, bởi cha tôi bảo nên phải làm. Vả lại heo là thú người hoạn dưỡng mà ăn thịt không công lao với đời. Huống c hi làm hàng heo chẳng ít, ăn thịt heo lại nhiều, xin vương gia rộng lượng.”  Phán: “ Ngươi ăn chay theo kinh Huyết bồn mà có tụng chăng?” Tâu: “Có tụng.”

    Phán: “  Người sau bày đặt kinh Huyết bồn, chớ không phải của tiên Phật đặt, phải chí ngươi tụng Kim Cang, chẳng những hồn mẹ ngươi tiêu tội vong hồn ba đời cũng được nhờ. Ngươi có hiếu tụng kinh trẫm trừ tội làm hàng heo, cho qua Đông nhạc, đầu thai làm con trai mần ăn. Còn hàng trâu bò và chó lại đây. Trâu bò cày ruộng mới có lúa cho đời, chó giữ nhà mới còn đồ cho chủ. Chúng nó đều có công với đời, người giết vật có công, không thể tha tội Phán quan tra thử chúng nó giết bao nhiêu chó bao nhiêu trâu bò cày ruộng?”  Phán quan tra bộ rồi tâu: “Họ Châu làm hàng 72 con trâu. HỌ Thẩm làm hàng hết 187 con chó.” Phán: “Hàng trâu đầu thai làm trâu 72 kiếp, hàng chó đầu thai làm chó 187 kiếp, thưỜng mạng cho đủ số, rồi giam vào ngục Ngạ quỉ (ma đói) không đặng đầu thai.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Vưn ở huyện Thạch thủ, mới học làm thầy địa lý. Họ Hà ở huyện Võ Lăng làm thầy coi số và coi tướng.” Phán: “Thầy địa lý mập mờ chỉ xấu là tốt, tốt gọi xấu, làm sai sách địa lý. Còn coi số coi tướng, nếu coi không thấu, cũng đoán hoạ phước không nhằm mà khoe thiên văn. Coi số coi tướng có sai cũng không đến đỗi hại người mà phải mắc tội nơi trời. Còn thầy địa lý lôi thôi tuy không mắc tội nơi trời mà làm thiệt hại cho người, là dời đổi tổn hao, lại làm sái động địa cho người mắc hoạ, hoặc hư nhà hại mạng, tuyệt tự, mới là tội lớn, chớ gạt người mà ăn tiền là tội nhỏ. Như vậy phải tính nó mà làm hại bao nhiêu nhà, thì bắt nó đầu thai làm súc vật mà thường bồi cho đủ số, rồi sẽ cầm hoài ngục. A tì. Còn thầy coi số coi tướng, quen thói nói lừa, gạt chúng mà ăn tiền, sau lưng người lại giận cho ít tiền mà mắng lén. Chẳng hề dạy ai làm lành cho khỏi họa mà đặng phước. Phạt nó đầu thai làm thằng câm mà đi ăn mày tới ba mươi tuổi chịu lạnh và chết đói. Rồi sẽ nghị lại.”

    Phán quan đọc án kế: “Bảy tên học trò phạm tội, tên thứ nhất họ Văn ở huyện Bành Trạch....”  Phán rằng: “Bảy tên phạm đồng lên đây. Trẫm coi các ngươi đều là ăn học hồi nhỏ, lo thi đậu mà hưởng sang giàu, song có hiểu chút đỉnh đạo lý thánh hiền chăng?”Các trò tâu: “Cha mẹ với anh tôi dạy chúng tôi hồi bé, lo học mà đi thi, trông thi đổ cho vinh hiển, ở nhà tốt, sắm đất ruộng cho nhiều. Thầy chúng tôi cũng hiền.”  Phán: “Trẩm nghĩ các ngươi đều có căn trước, thiệt là rất may. Thứ nhứt may đặng làm trai. Thứ nhì may không tàn tật. Thứ ba may đặng tánh thông minh, thứ tư may đặng khóa đậu vào trường chánh. Đặng bốn điều may ấy mà quên căn tu kiếp trước. sao chẳng nghỉ đã đứng vào nghề sĩ, là hơn nghề nông, nghề công, nghề thương. Bởi nghề nông rán sức làm ruộng rẫy, thức khuya dậy sớm cực khổ, tay chưn chẳng rảnh, ăn uống rồi, còn dư bao nhiêu thi` bán cho người ăn, ai ăn hột cơm của nhà nông, điều là nhờ nông phu đổ mồ hôi xót con mắt, mới có của ấy. Còn nghề công làm ra các đồ khí dụng mà bán cho người, thiên hạ điều nhờ cả. Còn nghề thương xuống biển lên nguồn, chở chuyên hàng hoá, mà bán cho đời dùng, khỏi thiếu. Như vậy ba nghề ấy điều có công với người. Còn các ngươi chiếm nghề đứng đầu là nhứt sĩ, có công chi với đời chăng? Các ngươi hiểu nghĩa lý chữ nhu là thể nào chăng? Bởi chữ nhơn với chữ nhu bởi người phải cầu nhứt sĩ mà nhờ. Song ngươi cầu mà nhờ các ngươi sự gì có ích cho đời việc chi? Té ra các ngươi mỗi ngày làm hao của trời đất, xài tiền bạc hàng vải của triều đìng. Biết các việc chơi bời; khảy đờn, đánh cờ, làm thơ uống rượu. Ăn bận cho nhủn nha, dạo chơi cho khoái lạc. Lại còn ra vào chốn nha môn, lãnh phần lo lót, hăm mộ hàng xóm, ngay sửa ra vạy, vạy sửa ra ngay, làm mất lẽ công bình, các độc ác hại đời chẳng kể xiết! Nếu thời may thi đỗ làm quan đặng quyền cai trị thì thưa dịp ỷ thế cho đầy túi tham. Mượn cái oai triều đình, trổ cái tài chủ trại.trên dối chúa dưới hại dân.Chúa thánh ban ơn rộng, bị ăn gian nên lê thứ hết nhờ. Dân nghèo chịu thuế sưu,vì hà lạm nên triều đình thiếu dụng. Trăm mưu nghìn kế cho lợi nhà mập thây chớ không lo bày việc lợi dân, mà sửa phong cho hết tệ. Thức khuya dậy sớm mà lo lập thế an dân, như cố ý cô lưu mà chờ hối lô.


    Không cần lễ nghĩa, chẳng hề tu đức thanh liêm, mảng cây mảng cậy oai quyền không thẹn làm điều tà vậy sao chẳng nhớ: người xưa làm chức tú tài đã lo đời, cứ gánh vác việc thiên hạ. Còn các người đậu chức tú tài thì mong ăn của thiên hạ cho lợi mình! Còn sự nầy đáng ghét lắm: bình thường hay khoe mình là trung hiếu liêm sĩ thấy ai làm một điều chẳng ngay, thì mắng nhiếc quá sức! tới phiên mình thì quên trung hiếu liêm sĩ, bỏ trôi theo giòng nước, khi trước mắng người không ngay nay ở vậy không cần ai mắng! Sao gọi là biết tu ố, mà xưng biết sĩ! Có một trò tâu rằng:' Tôi có công dạy học trò, cũng hữu ích cho thế '. Phán: Ngươi quả thiệt như đức thánh Mạnh tử lấy hiếu đễ trung tín mà dạy học trò sao? Chẳng qua là bực dung sư, dạy cầm chừng mà hại đệ tử, cả ngày lo ăn thịt, nhậu rượu cho say; không công mà hưởng lộc, tội lỗi chẳng ít, còn kể công sao? Ngươi phải họ Ngu ở huyện Tương Dương chăng? Tâu:' Phải '. Phái:'Ngươi là thày dạy học, sao còn dốt quá, lời không thông. Có lẽ hỏi ngươi rằng: Sát sanh có tội chăng? Ngươi nói: Không tội gì, Kinh Phật nói: Bất sanh bất diệt, nghĩa là không sát sanh thì nó chẳng đặng đầu thai kiếp khác! Ngươi mượn chữ kinh mà thích nghĩa bướng, mà xúi chúng sát sanh, thì mang thêm ba tội nặng. Một là mượn câu kinh mà thích nghĩa bướng. Bởi ngươi không hiểu nghĩa bất sanh là không dầu thai nữa, còn chữ bất diệt là không thác, nghĩa là nói tu có trí huệ, có công quả lớn đức hạnh lớn, về Tây phương đặng liên hoa hoá thân chẳng đầu thai theo bực vãng sanh tịnh độ, mà cũng không thác nữa, Phật gọi là chứng quả Niết bàn. Chớ không phải nói nghĩa kỳ chướng dốt nát, giảng ngược như ngươi! Còn tội thứ nhì là xúi cho chúng sát sanh, những kẻ dốt ưa sát hại, nghe ngươi giảng vậy, nó càng sát sanh hơn nữa. Tội thứ ba là nói nghĩa ngược ngạo không rành. Nếu nói nghĩa ngươi thích đó, thì là bất diệt bất sanh mới phải. Sao câu kinh nói: Bất sanh bất diệt, mà ngươi dám thích nghĩa nghịch tự như vậy? Huống chi thuở nay, ngươi biếm nhẽ thánh hiền tiên phật, kể tội không xiết! Học trò phạm các tội khác còn thương tình dung chế đặng. Trừ ra tội chê bai vị tổ tam giáo (Khổng tử, Thái thượng, Thích ca) thì thiên luật không dung. Quỉ Dạ xoa, dẫn họ Ngu, đến làng Ác khuyển, cho bầy chó dữ xé thây mà trị tội kiêu ngạo tam giáo. Còn một trò nầy hay đặt thơ huê nguyệt, ca huê tình, nói dâm cho gái trai động lòng sanh dâm loạn mới hư phong tục; tội ấy nặng nề,trước đánh đòn tám chục roi sắt, rồi kéo lưỡi cắt môi, cầm hoài nơi ngục mới với họ Ngu. Còn năm người tuỳ theo tội nặng nhẹ, cho đi đầu thai. Ba người tội nặng cho đầu thai làm lừa, làm chó. Còn hai người tội nhẹ đầu thai tàn tật; câm, bại, đui, cùi. Đến lãnh tờ, giải qua vua Đông-nhạc, đi đầu thai lập tức'.

    Phán quan đọc án kế:'Họ Viên ở huyện Quan-san, lập tiệm cầm đồ, ăn lời quá phép, mà không chế một ly. Còn trong nhà cho vay, cho giạ non, thâu giạ già. Trong tiệm dùng cân hai đáy (trái cân ), cho ra thì dùng trái cân nhẹ, thâu vô đổi trái cân nặng. Bởi cớ ấy nên giàu bằng Nhà nước. Làm cho trời giận thần hờn. Bị hoả tinh đốt nhà là lửa trời sa cháy tiêu sự sản. Ba mươi lăm tuổi chết yểu, vợ con cũng thổ huyết chết luôn! Phán:'Ăn lời quá phép, đã phạm tội nơi trời. Huống chi cân lậu, đong nhẹ giạ già giạ non: lường gạt của chúng cho nặng túi tham. Tưởng gạt chúng té ra gạt mình, mong hại đời chẳng ngờ hại mạng. Cả đời lường gạt. của chúng mà còn hay không? Chẳng giữ lương tâm, ba đời chịu khổ. Tuy bị cháy nhà cửa; mà chưa hết tội. Giao tờ qua vua Đông -nhạc; phạt đầu thai làm ngựa trạm thơ, bị chúng cỡi mãi đánh hoài, chạy lao quá cho tới chết. Đầu thai làm ngựa ba kiếp như vậy, mới đặng đầu thai làm người nghèo'.

    Phán quan đọc án kế:'Họ Hồng ở huyện Thiện hưng cha làm chức điển lại, ở huyện - Võ Xương, hồi nhỏ họ Hồng bị cha không ưa tức mình cạo tóc vô chùa. Sau phạm luật về thế để tóc, ngã mặn như kẻ ở thế tục. Gập ai cũng xảo, không tiếng thật thà. Sau lưng hay nói hành việc của chúng! Hay kẽ vạch sự tư tình của người và nói phụ nữ hoa nguyệt, xúi giục gây gỗ thêm thừa thêu dệt nhiều điều, làm những chuyện trái phép.' Phán: ên nầy tội nặng khó dung '. Phán quan tâu: Tên nầy không dữ chi lắm, bị ác khẩu mà thôi '. Phán: 'Tội ác khẩu có ba điều, tên nầy gồm hết. Nói láo về sự tục tĩu, là phạm chữ dâm sĩ, bất thông như đứa điên. Nói láo thêm thừa cho chúng giận nhau mà đâm chém. Nói láo gạt người mà lấy của, phạm chữ tham gian.Té ra một sự nói xảo, mà gây ra chữ dâm, chữ si, chữ sân, chữ sài, chữ tham, chữ giao đạo. phán quan còn gọi tội ác khẩu là tội nhỏ sao? Truyền xẻ miệng bớt môi, khẽ răng, kéo lưỡi, mà hành tội ác khẩu, tuy còn sống đã phạt tuyện tự, mà chưa hết tội nay phạt cầm, Hoài Địa ngục, không đặng luân hồi '.

    Phán quan đọc án kế: 'Vợ họ Uông, là nàng Trình thị ở huyện Giang-Hà. Nguyên kiếp trước ăn chay, cữ sát sanh, làm lành, hay bố thí, có hiếu với mẹ chồng nuôi đau hết lòng hết sức, bởi chưa đủ công hạnh, nên cho đầu thai kiếp nầy mà hưởng phú quí làm con nhà quan giàu; lại gặp chồng lương thiện sanh ba trai hai gái, định số sẽ sống 82 tuổi, không bịnh mà mãn phần. Không dè bị cha mẹ cưng quá, vì con quan, nên quen thói ỏng ảng hồi nhỏ, nhà có tôi tớ nên quen thói làm chủ nhà hay mắng nhiếc hành hạ kẻ dưới tay, tập tánh đã quen nên độc dữ lắm; đến khi có chồng hiền hậu, thì ỷ thế giàu sang nên chuyên quyền, hiếp chồng quá lẽ. Vã lại quen thói ăn sung sướng, nên sát sanh hại mạng rất nhiều. Cho vay ăn lời quá phép, khắc khổ tá điền, đã bắt làm công không, thất mùa cũng không châm chế chút nào! Thuở nay chẳng hề bố thí cho bà con nghèo đồng điếu nào, có đâu bố thí cho người dưng. Ngày nào cũng chửi tôi tớ. Đánh chết tớ gái là Vương -nguyệt - Mai, lại còn khoét mắt tớ trai là Trương -hưng -Nhị bị đau nhức tớ chết. Lại còn phạt tớ gái là Ngô-hà -Hương, bắt ăn đậu nành sống cả tô sình bụng ba ngày mà chết! Còn nhiều đứa tớ khác bị thương tích, tai mũi tay chân môi miệng điều tì hết! Có kẻ đem sự báo ứng nhơn quả mà khuyên giải thì Trình thị ỷ con nhà lớn quan to, nên mắng nhiếc kẻ giảng nhơn quả và nói rằng:' Ta giàu sang, no ấm áo, con cháu đầy nhà ta thuở nay lại mấy bố thí cho ai, mà phước đó? Ai tin ngươi nói phải tu nhơn tích đức mới sống lâu tới bảy tám mươi?' Nói rồi đuổi đi lập tức. Mấy lời ấy Táo quân cũng tâu tới Thiên đình, và lại mỗi tháng chạy tờ về cửa thiên tư mạng chánh, đều biên tội Trình thị đã nhiều. Các hồn oan cũng cáo nữa. Ngọc đế truyền bớt ba kỉ, cho bắt hồn Trình thị đặng trị tội nên mới 46 tuổi mà chết.

    Phán rằng:'Không kính trọng chồng, là tội thứ nhứt theo luật trời không tha đặng. Huống chi độc dữ khắc khổ tôi tớ, hại oan ba mạng. Tánh độc dữ hơn cọp không phải lòng người, đáng cầm Địa ngục, không đặng đầu thai nữa.' Phán quan tâu: 'Trình thị nguyên kiếp trước tu hành có hiếu với mẹ chồng lắm.'Còn đời nay người con gái lớn Trình thị, thấy người mẹ hổn với cha, và ở độc dữ, nên tu hành tụng kinh niệm Phật làm phước bố thí, mà cầu cho mẹ tiêu tội, cũng như tu thế cho mẹ nó. Vậy xin vương gia cho luân hồi trả quả, chừng hết nợ trước sẽ xử nữa.'  Phán:'Nếu con gái nó tu thế như vậy, thì trẫm tha tội cầm ngụ, cho đặng luân hồi. Kiếp thứ nhứt cho nó đầu thai làm đàn bà nghèo khổ đói rách cả đời, cho hồn Hà Hương vào bụng nó làm quỉ thai đau đớn đến kiếp, tới ba năm phát bệnh điên mổ bụng mình và cắt ruột mà chết, đặng trả quả bắt Hà Hương ăn đậu nành sống sình bụng mà chết. Kiếp thứ nhì, đầu thai làm con câm, ghẻ chốc cùng mình đi xin tới 50 tuổi, ăn cắp gạo nhà họ Trương, bị con gái họ Trương (là hồn Vương nguyệt Mai đầu thai ) đánh chết, mà đền mạng oan kiếp trước. Kiếp thứ ba, làm con gái 18 tuổi, bị du côn (là hồn Trương hưng Nhi đầu thai), đâm đui cặp mắt và đứt gân, lết ngoài chợ xin ăn tới chết, thì trừ mới rồi ba mạng. Trong ba kiếp ấy hành tội câm, ghẻ đói, lạnh cực khổ, đi xin, là đền tội hiếp chồng và làm giàu bất nhơn đó. Như trong ba kiếp chịu khổ, biết ăn năn ở hiền lành, thì sẽ châm chế cho kiếp khác.' Trình thị tâu rằng:' Chồng tôi khờ dại tệ quá, chẳng biết lo việc nhà, tôi không rầy sao đặng? Xin vương gia xét lẽ phải mà thứ dung '.

    Phán:'Đàn bà có đạo tam tùng, khi còn ở nhà, tùng quyền cha mẹ, xuất giá tùng quyền chồng, chồng thác tùng quyền con trai, phần phụ nữ không đặng làm chủ. Chồng ngươi là kẻ hiền hậu, ngươi lại chê rằng khờ dại, mà hổn hào khi dễ trăm bề. Đến nước nầy. mà ngươi chưa biết tội sao?' Trình thị tâu rằng: Tội tôi hổn với chồng đã đáng. Còn như đánh tôi chửi tớ, là tại chúng nó làm công việc không xong, mà lại ăn vụng làm biếng trăm bề hư hết.Vả lại chúng nó tánh ở ngang ngạnh, là tại chúng không vưng theo, ngu mê ám chướng không hiểu việc chị. Tại chúng nó chướng như vậy, là nó bảo phải đánh nó, xin vương gia xét lại.' Phán:' Thuở nay kẻ hầu hạ, tâm tánh chúng nó không phải như người bực thượng. Hoặc là hồn cầm thú đầu thai, hoặc người dữ đầu thai lại, bị mất tánh thông minh, phú tánh ngu độn theo kẻ hạ tiện; vã lại đầu thai làm con nhà hèn hạ dốt nát, thì tánh nó thô tục ngang dọc, cứng đầu cứng cổ, ngu mên ám chướng, là lẽ trời định tự nhiên. Mình là người, người bề trên, cơn bình thì phải thủng thẳng mà dạy dỗ, đến việc làm, phải thích nghĩa cho rành, và dặn di dặn lại. Dầu chúng nó lầm lỗi, cũng tuỳ tội nặng nhẹ mà răn, lẽ nào nóng nảy mà đánh chửi mãi, đánh quá cho chúng nó hoảng hồn mà phát điên. Sao chẳng xét, chúng nó cũng là con cái nhà lành, vì nghèo quá mới cắt ruột mà bán cho mình làm tôi mọi, tuy tiếng là thầy với tớ, chớ chúng nó cũng như con cái trong nhà, việc ăn mặc, đau mạnh, khoẻ mệt mình phải biết thương chúng nó. Bởi cớ ấy tớ trai cũng như con trai nuôi, tớ gái cũng như con gái nuôi. Lẽ nào ở độc mà khắc khổ? Giả tỉ con cái ngươi bị người đánh chửi, ngươi có đau ruột hay không? Còn ngươi cho tôi tớ ăn không no, bận không lành, lại nỡ lòng hành hình trái phép, hại tới ba mạng. Thiệt là không sợ luật trời, còn dám nhiều điều cãi lẽ. Mau dẫn nó đi đầu thai '.

    Phán quan đọc án kế:' Họ Châu ở huyện Hớn dương, từ hồi nhỏ lập tiệm bán hàng xén, các trái cây, đồ đồng thiếc và các món nhỏ mọn lẻ loi. Thường dùng giấy chữ mà gói các món đồ bán. Bình thường hay lấy giấy chữ mà chùi bàn ghế, chỗ nào nhơ uế, cũng lấy giấy chữ mà chùi, và quét đổ nơi hầm dơ 24 năm như vậy.

    Còn vợ họ Huỳnh, là Khương-thị, ở huyện Hiếu cảm có hai đứa con đi học, mỗi ngày Khương-thị lấy giấy lộn (giấy chữ) để dành bồi hồ bao độn đáy giầy, hoặc đi sông, bồi vách, hoặc cuốn làm rọi để hút thuốc, hoặc vò cho nhừ làm chó lén, huỵch để nhúm lửa; như vậy năm năm.

    Còn họ Mai ở huyện Táo dương, là Tú tài dạy học trò hay đạp giấy chữ, các học trò bắt chước, cũng huỷ giấy chữ, chẳng biết trọng chữ, lấy chùi đồ, hoặc đốt mà hút thuốc, làm thường vậy đến 22 năm. Ba tên phạm ấy đồng tội.”

    Phán: “Trong sách có chữ trời đất quỉ thần, tên ông bà cha mẹ, trong giấy chữ đều có. Nếu không chữ, thì đạo lý chẳng rành, sao có kinh sách? Nếu đạp huỷ giấy chữ, cũng như đạp huỷ trời đất, quỉ thần, thánh hiền, ông bà, cha mẹ. Họ Mai nhờ chữ nghĩa mà hiển vinh, nhờ chữ nghĩa mà no ấm, mà dám đạp huỷ giấy chữ 22 năm, cho các học trò bắt trước, tội ấy về người hết. Ba phạm ấy đều bị cầm nơi Địa ngục không đặng luân hồi.”

    Phán quan đọc án kế: Họ Dư ở huyện Miễn - Dương nhà cũng khá, mà ở bất hiếu. Nuôi vợ con ăn mỹ vị, bận đồ tốt, còn cha mẹ ăn bận lấy có. Cha mẹ phiền trách, nó trả lời rằng: “Cha mẹ để gia sản chi đó, mà bắt lỗi nuôi ăn mặc không xứng đáng? Nó lại mắng thêm, làm cho cha mẹ nó buồn rầu tức tối trọn đời.”

    Phán: Họ Dư tuy dốt, há không biết ơn cha mẹ sanh thành nuôi dưỡng, trở lại trách cha mẹ không sự sản, không nuôi cha mẹ, mà lại nuôi vợ con tử tế. Nếu vậy vợ con có để gia sản cho ngươi sao? Ngươi bất hiếu thiệt không bắng súc vật. Phạt nó đầu thai làm trâu ba kiếp, ra sức cày ruộng mà nuôi thiên hạ, chết rồi còn bị chúng xẻ thây, mà đền tội bất hiếu.”  Phán quan tâu: “Tên phạm nầy có xí được một trăm lượng bạc, cho lại kẻ làm mất, đền ơn nó cũng không ăn nên kể rủi mất, đền ơn nó cũng không ăn nên kể rủi mất bạc trở ra may, nội nhà khỏi hại. Âm chất ấy cũng đáng chế bớt tội ngỗ nghịch.” Phán: “  Như vậy thì chết khỏi làm trâu ba kiếp, cho đầu thai làm ăn mày chết đói hai kiếp. Nếu biết tu sẽ hay.”

    Phán quan đọc án kế: “  Vợ họ Lý là Trần thị ở huyện Huỳnh -Mai, thủ tiết, mà bất hiếu với cha mẹ chồng. Cha chồng bóng quáng, mẹ chồng phong bại, Trần thị cho ăn mặc lấy có, đến đỗi đói lạnh mà chết.”  Phán: “Đàn bà có chồng, thì tùng quyền chồng, cha mẹ chồng là cha mẹ ngươi. Ngươi đã biết thủ tiết, thì phải ở có hiếu với cha mẹ chồng, thay mặt cho chồng mà nuôi cha mẹ, thì tiết hiếu song toàn. Thời khi còn sống vua quan phong tặng, thác rồi lại đặng thành thần; mới là trọn lành, thần kiêng quỷ sợ. Sao lại phạm tội bất hiếu, đáng đoạ Địa Ngục, không đặng đầu thai.”  Phán quan tâu: “  Nàng nầy giá chồng hồi còn xuân, thủ tiết ba mươi mấy năm cực khổ, xin vương gia châm cho đặng luân hồi.”  Phán: “Trẫm cũng vì sự thủ tiết, mở đường mọn cho nó đặng đầu thai làm cho chúng phân thây, mà trừ tội bất hiếu cha mẹ chồng.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Hồ ở huyện Lâm-Lương đậu Tú-tài, tánh ở độc bạc, hay nghe lời vợ mà ngỗ nghịch song thân. Lại thấy anh em thật thà dốt nát, nên chia phần ăn để ruộng hèn, nhà xấu, đầy tớ dở cho người anh. Còn chia phần ăn cho người em rồi, sau em thác, em dâu là Lý -thị không con, nên nuôi con người anh cả làm con mà lập tự cho chồng. HỌ HỒ muốn đoạt gia sản của em dâu, nói vu oan rằng: Lý -thị tiếng thủ tiết mà tư tình chửa hoang, dựng chứng đủ cớ. Lại mướn bà mụ nghiệm xét, cũng nói Lý -thị thiệt có thai. Lý -thị tức mình, mổ bụng trước mặt quan mà chết, làm cho nhiều người chứng ăn tiền, đều mắc họa với bà mụ. Như vậy họ Hồ bị ba tội nặng, mau xử mà răn đời.”

    Phán: “Họ Hồ đậu Tú -tài, thì đã thông kinh Thi, kinh Lễ, sao mà bất hiếu bất đễ tới thế?”Tâu: “Tôi hồi còn nhỏ có học kinh Thi kinh Lễ cũng biết hiếu cha mẹ, thương anh em. Tại vợ tôi học hay mà ở độc, nó xúi các việc bất hiếu bất đễ. Tôi dại nghe lời, nhờ vương gia rộng dung.”  Phán: “Tội vợ ngươi Mã thị, ông Táo và du thần, tâu cáo nơi thiên đình đã lâu, tự nhiên phạt tội một cách nặng nề. Ngươi há chẳng biết; chồng cầm quyền vợ, vợ phải nghe lời chồng dạy, lẽ nào chồng nghe lời vợ dạy hay sao? Nếu ngươi thiệt tình hiếu đễ. Vợ ngươi lẽ nào dám bất hiếu bất đễ. Nay ngươi bất hiếu với cha mẹ, khi anh bất thông hiếp em dâu thất thế mà còn nỡ nào vu oan làm bức cho tiết phụ liều mình? Thiệt tánh độc hơn rắn bồ cạp, không bằng loài chó heo. Phạt đoạ Địa ngục A tỳ, hành tội liền liền, quăng lên núi đạo, rồi bỏ xuống ao nước sôi, xay giả nấu dầu, thiêu ra tro, rồi huờn hình lịa như vậy luôn, không đặng đầu thai nữa.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Lưu ở huyện Bành Ly, hồi nhỏ học thợ mộc, hay ếm mà hại chủ nhà, hai mươi năm như vậy. Hay chửi mưa nắng, vì hư việc của nó.”

    Phán: “  Ngươi làm thợ mộc, ếm hại chủ nhà. Tuy ngươi ếm người không nổi, song cái lòng độc ác của ngươi, quỉ thần đã ghét lắm. Huống chi mưa gió mây sấm trời đất đều do các vị thần linh cai trị. Sao ngươi dám mắng mưa chửi gió xúc phạm trời đất thần linh. Cớ nào ở độc và điên cuồng đến thế? Trời sai thiên lôi đánh ngươi chết, mà trừ chưa hết tội: Nay phạt ngươi làm ăn mày câm và điếc, mãn kiếp chết xuống đây sẽ hay.”

    Phán quan đọc án kế: “HỌ Từ nước Vệ, huyện Kim Sàn. Hồi nhỏ ngang dọc, không tin sự báo ứng tội phước nên không kính thánh thần. Gặp thầy chùa, thầy tu, hoặc ăn mày, đều không bố thí, mà lại mắng thêm.  Lòng ở bất nhơn, hay giết rùa, đập rắn, giết loại trùng dế rất nhiều. Say rượu hay phá quán, đánh lộn ngoài chợ. Lúc say rượu kia, đánh chết đứa con đẻ mà không biết thương.”

    Phán: “Không có lòng nhơn thương xót, là chẳng phải con người. RẤt đỗi thấy đứa con nít nhỏ, bò gần miệng giếng lòng còn thương, bất nhẫn mà bồng ra cho xa, huống chi con đẻ của mình mà đánh chết? Hùm dữ còn chẳng nỡ ăn thịt con, lòng thằng này thiệt độc hơn cọp, tuy ở Dương gian đã bị cầm ngục cho tới rũ tù, nay nấu dầu và đốt cho đáng đời, rồi sẽ đi đầu thai làm súc vật.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Nhan ở huyện Quan hoá, tánh ở không tốt, hay giấu việc của người, thuật việc hư của chúng. Kể nói cho sướng miệng, không cần việc có việc không. Muốn đọc cho chúng câu, chẳng kể nói chơi nói thiệt. Làm cho đàn ông con trai mất tiếng khen, đàn bà con gái mang danh xấu, những tội ấy kể không xiết, nghị phạt tội cho mau.”

    Phán rằng: “Họ Nhan là mặt người nói ngay, không cần danh tiếng chúng. Tội độc ác quá rồi, giam vào ngục cắt lưỡi.”

    Phán quan đọc án kế: “Họ Giám ở huyện Nghị Thành, đấu Tú -tài, có khoa ngôn ngữ, hay kêu ngạo mắng nhiếc người và nói trây nói nhớp theo việc tục tĩu. Thường lấy các câu trong kinh sách, nói bức khúc, thích nghĩa bậy mà cười, đáng tội lắm.”

    Phán: Ngươi đọc sách thánh hiền, lại để ngươi mà giễu lời thánh hiền. Có tài trí thông minh, không giúp việc phải, lại đêm tai trí mà giễu cợt, nói kiêu ngạo cho trời đất ghét, mà tổn đức mình, làm chúng cười một chút, không ích chi cho mình, thiệt là ngu quá! Cho đầu thai làm đứa ăn mày câm cho hết nói nữa!”  Phán quan tâu: “Họ Nhan với họ Giám, đều phạm khẩu quá, tội ấy cũng nhỏ xin Vương gia rộng dung.”

    Phán: “Tội lời nói tuy là nhỏ mọn, nhưng mà bày sự tự, tỏ sự kín của người và lại chưa dọ cho chắc nghe lưu truyền mà nói ra như mắt thấy. Những người hay nói chắc, không vị không giấu, mà nói bóng gió điều chi, ai cũng tin chắc. Huống chi thiên hạ ưa nghe chuyện mới chuyện lạ, phân nửa không tin, chớ tin cũng hết phân nửa, làm cho người hư danh xấu tiết, đến nỗi trên ông cha mang nhục, dưới con cháu hổ hang. Có khi nói chúng tức tối hổ thẹn mà liều mình, tội lớn vô cùng, sao gọi là lỗi nhỏ.”  Phán rồi y án, không chế chút nào.

    Phán quan đọc án kế: “  Vợ cho Chúc là nàng Cát thị ở huyện Dực Dương. Tánh hay nghi ngờ, lòng ở độc hiểm hay xui chúng rầy rà, làm cho bà con rời rã, như là: cha con mẹ con bỏ nhau anh em vợ chồng xa nhau. Phàm gặp đờn ông con trai cũng nghi nếu có sự chi mất lòng, thì vu oan cho người ấy là loạn luân. Gặp phụ nữ cũng sanh nghi nếu bất bình thì vu oan rằng nàng ấy ngoại tình lang chạ. Những gái đồng trinh hoặc người thủ tiết, đều bị nó vu oan, dẫu bà con hoặc chí thân, nó cũng không chừa nữa. Nó vu cho Chương thị, Chương thị tức mình phát bịnh thác! Lại nói vu oan cho người em trai chàng hàng bên chồng rằng chú ấy muốn lấy con gái! Người em chồng tức mình, nhảy xuống sông mà trầm mình. Mau định tội răn đời.

    Phán: “Cát thị tánh hay hồ nghi, lòng độc như rắn bò cạp, lưỡi bén như gươm, lại chúng hư danh liều mạng. Trong đám phụ nữ có loài bất lương ấy, không còn án nào mà hơn nữa. Truyền cắt lưỡi, đục răng, cắt môi cầm tại ngục A tì mà hành mãi, không đặng đầu thai. Phán quan thâu hồn đứa con trai với đứa con gái nó, cho hết dòng thèo lẻo.”  Phán quan tâu: “Chồng nó là họ Lương, hiền hậu làm lành, có khắc bản kinh Cảm Ứng in mà cho người, tới 7.534 cuốn, khuyên dạy người đời, cải ác tùng thiện công đức rất lớn, nỡ tuyệt hâu ngươi.”  Phán: “  Nghĩ chồng ngươi hiền lành, người lành phải có hậu, nên tha cho hai đứa con. Còn ngươi tội ác thái quá, cầm ngục hoài không luân hồi.”

    Phán qua đọc án kế: “  Phan thị nhan sắc xinh tốt mà tham dâm, chê chồng xấu tướng, lộn chồng lấy các tay điếm đàng, thả lắm đau ghẻ lở mình mà chết.”


    Phán:' Nhơn duyên trời định, có số giàu nghèo. Ngươi là đàn bà xấu nết, không biết hổ thẹn, chê chồng xấu mà lộn chồng, lại ngoại tình lang chạ, Thấy chúng giàu sang tức mình nghèo khó, ỷ mình bóng sắc, chê chồng xấu xa không xét nết lăng loàn mà chê chơn chất, chê chồng già mà mê chồng trẻ, trách cha mẹ định không xứng lứa vừa đôi. Thờ chồng không trọn đạo, hoang nết chẳng nên người. Đứng đường bán dạng thuyền quyên, đánh bóng nhem trai hoang đảng. Tội tà dâm đại ác không dung. Phạt đầu thai làm heo nái hai kiếp, cho đáng tội lộn chồng, rồi sẽ xử nữa. Truyền quỉ sứ cho máy răn sắt nhai nó, rồi cho đầu thai '.

    Phán quan tâu rằng:' Hai mươi ba khoản ác phạm cộng 42 án đã xử rồi. Còn Thiện sĩ Lâm tự Kỳ bị bắt lầm bây giờ tính lẽ nào? Vua Tần Quảng đòi hồn lâm tự Kỳ lại, phán rằng:' Nay đưa ngươi hườn hồn, phải rán lấy lòng thành tu hành cho sấn sướt, trẫm nãy giờ xử các án đó, ngươi đều hiểu chăng? Tự Kỳ tâu rằng:' Tôi thấy đủ ' phán:' Các sai dịch, đưa hồn thiện sĩ qua vua Đông nhạc, lãnh phê hồi dương đặng thiện sĩ thuật lại cho đời nghe các án trẫm xử đó.' Tự Kỳ tâu: ' Tôi tối dạ nhớ các án không rành. ' Vua ngó phán quan mà phán rằng:' Cho thiện sĩ một hườn thuốc phát huệ ngậm trong miệng mà hồi dương, thì nhớ đủ điều không sót. 'Tự Kỳ lãnh huờn thuốc phát huện rồi tâu rằng:' Tôi cám ơn vương gia cho sống lại, từ nầy tới, quyết ý tu hành song chưa biết cách tu hành đạo đức lóp lang điều nào làm trước cho trúng cách?'

    Tần quảng Vương phán rằng: Đạo là đạo ngũ đạt: chúa tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bằng hữu, cũng trong năm bực ngũ luân chớ không điều chi lạ. Sao gọi đạo chúa tôi: Phàm làm quan thì trước phải ngay chúa thương dân, ở trong trào, hoặc trấn cõi ngoài, điều giữ theo luật cho xứng chức phận, hết lòng hết sức cứ lẽ công bình mà quên tự vị, lo việc nước mà quên việc nhà, ấy là theo bực chức phận. Còn dân giả thì lo cho đủ sưu thuế, không phạm phép nước, giữ bổn phận thảo thuận ngay chính, thiệt thà chắc chắn, giữ theo lẽ nghĩa nhà ở nhơn nhường. Khuyên dạy quê khờ, giữ gìn phong hoá, ấy là tu bực chúa tôi. Còn đạo cha con, làm cha nuôi con thì phải dạy, thương con phải cho nó cần lao. Hoặc dạy sách kinh cho thông đạo lý, hoặc dạy ruộng rẩy buôn bán nghề nghiệp làm ăn; chẳng nên cưng hư, cho lập lũ tửu sắc hoang đàng bài bạc. Còn làm con, lo nuôi dưỡng kính yêu cha mẹ, việc lớn thì lo ăn học nên danh cho cha mẹ vinh hiển, ở thanh liêm ngay thẳng cho cha mẹ được tiếng khen. Kế đó phải rán hết sức hết lòng mà nuôi cha mẹ, ăn mặc cho xứng đáng, tuỳ theo sức mình giàu nghèo; giàu sang thì dưng mùi ngon ngọt và chiều lòn cho cha mẹ vui lòng, đừng để cha mẹ bất bình mới trọn thảo; nếu nghèo khó dầu muối dưa hẩm hút, cũng nuôi cho cha mẹ đẹp lòng, liều thân trâu ngựa mà đền cúc dục. Dẫu nghèo cũng hết lòng cung kính cha mẹ, chớ ỷ một sự nuôi, mà không kính lễ. Còn phải biết thân vóc nầy là thịt xương của cha mẹ chia cho, nên phải thủ thân chẳng dám huỷ hoại thân thể, và cũng không dám làm quấy cho nhục cái vóc của cha mẹ sanh thành, mới là trọn thảo. Ấy là đạo cha con như vậy. Còn đạo chồng vợ phải phân biệt chồng lo việc ngoài, vợ lo việc trong cho trúng cách. Chồng cầm quyền vợ, song phải lấy lễ nghĩa mà đãi nhau đừng bỏ phép mà mầy tao mi tớ. Hoặc chồng ỷ quyền mà đánh hiếp vợ, hoặc vợ vô lễ mà sỉ nhục chồng. Chồng trọng vợ tại đức hạnh, chẳng nên mê sắc, vợ kính chồng như thờ chúa phải giữ đạo tôi. Vợ chồng thuận hoà, thì nên gia đao. Chồng dạy vợ hiền kỉnh cha mẹ chồng, cho dâu sẽ bắt chước. Hoà thuận chị em bạn dâu, thì trong nhà hết sanh nghi. Chồng dạy phải thì vợ nghe, mới gọi xướng tuỳ trọn đạo. Ấy là tu việc chồng vợ, còn như anh chị em cũng một chỗ mà ra, một máu một thịt như tay chơn, thể các nhánh cây một gốc, nếu anh đau như em đau, coi như một vóc, dầu sự may sự rủi, sự vui sự buồn, cũng chung cùng nhau một thể.

    Như cha mẹ còn mà anh em hoà thuận thương yêu nhau, thì cha mẹ vui mừng lắm. Tuy cha mẹ đã khuất, ngó tháy anh em, cũng như thấy cha mẹ, thương anh em cũng như thương cha mẹ. Bởi vậy tuy anh em bất hoà mặc lòng, nếu người dưng đánh anh em, cũng nóng ra mà binh vực, lấy đó mà suy, thì anh em là thiết lắm. Nói tắt một điều: cha mẹ anh em là trời định, không đổi dời đặng. Còn vợ con là ở sau, tại nơi người định, nên đổi dời đặng.Vì vậy chẳng khá trọng vợ con mà khinh anh em, chớ khá vị tình sau maquền nghĩa trước, thì tu việc anh em rồi. Còn bậu bạn cũng đứng vô năm bực nhơn luân là cớ nào vậy? Mình chưa làm việc lỗi, nhờ bạn trách mới bỏ. Việc nên hư lợi hại phải quấy của mình, có khi cha mẹ vợ con nói không được, vì không nỡ nói, mà bạn dám nói. Việc tâm phúc của mình, có khi cha mẹ vợ con nói không được, mà bạn dám nói. Có việc cấp nạn, cha mẹ vợ con cứu không được, mà bạn lo được cứu được. Cho nên con người không nên chẳng có bạn đạo nghĩa. Cho nên kết bạn, nói phải chắc chắn nhìn lời: lâu ngày cũng chẳng quên nhau. Lo việc cho bạn, cứu cấp cho bạn. Mình ở cho trọn đạo với bằng hữu, tự nhien bằng hữu giúp ích lợi cho mình. Tu xong cái đạo bằng hữu, năm bực đạo nhơn luan trọn rồi. Xin thiện sĩ rán lên một bực. Ấy là lời quê cạn của trẫm, truyên dạy người đời, nghe cho mau hiểu rán sức mà làm. Nói tắt một điều, người tu hành chẳng luận bỏ nhà hay ở nhà, gái trai già trẻ, cũng không luận sang hèn giàu nghèo, hoặc trôi nổi hoạn nạn, không người nào mà tu chẳng được, không chỗ nào mà tu chẳng được, không thuở nào mà tu chẳng được. Tại nơi mình tuỳ theo bổn phận, trong lòng cho an. Mình có dư, coi như còn thiếu, chớ sanh lòng kiêu căng xài phí quá chừng. Mình tuy thiếu, coi như có dư, đừng sanh dạ tham lam ước mơ quá lẽ. Ở với người, cứ một chữ DUNG, trị trong nhà nhớ trăm câu NHỊN. 

    Nếu ai ở điều chi quấy quá, mình hết lòng tìm kiếm cho ra chỗ phải của người. Mình ở điều chi phải nhiều, mình hết sức xét suy cho ra chỗ phải còn thiếu. Lo cần kiệm là đầu sanh lý, giữ hiếu đễ là cội tu thân. Lại còn bố thí giúp đời, làm lành chẳng mỏi. Làm đặng vậy trọn đời; gìn chay tốt không gìn cũng tốt, niệm Phật linh, Không niệm cũng linh.' Tự Kỳ:'Phải có của mới bố thí đặng, nghèo mới biết làm sao?'Phán rằng: Sự bố thí chẳng phải rặt ròng có của, lấy của bố thí là thí cho kẻ nghèo ngặt. Nếu sức mình không dư, mà cho kẻ đói một chén cơm, cho kẻ khát một bát nước, cũng gọi là bố thí. Hãy còn nhiều cách bố thí mà không tốn của. Như kẻ đương lo sợ, mình dùng lời dịu giải khuyên cho hết sợ, gọi là vô uý bố thí.

    Còn những người mê đắm, không biết ăn năn, mình khuyên giải cho tỉnh lại hết lầm, gọi là vi pháp bố thí. Nếu có việc chi tiện cho đời, thì mình ra sức, việc bất tiện mình lo dùm cho mên, gọi là phương tiện bố thí. Nếu người ta tranh đua, thưa kiện, mà mình thích giải hoà, gọi là giải kiết bố thí. Trong lòng bất nhẫn hay thương người, gọi là tâm điều bố thí. Các điều đã nói đó, là bố thí lời nói với công làm lựa phải có tiền bố thí '. Tự Kỳ tâu: Cứ theo thầy chùa nói: phải ăn chay niệm Phật mới gọi là tu hành.' Phán rằng:' Ăn chay niệm Phật, là ép xác sửa lòng. Chớ ăn chay có ích chi cho Phật. Còn niệm Phật lại lợi chi cho đời, Miễn là làm mười điều lành, lánh mười điều dữ, thì đủ rồi.Nếu ăn chay niệm Phật mà mười điều dữ không bỏ,mười điều lành không làm, chẳng những không phước không công mà lại nhiều tội nhiều lỗi. Vậy chớ mười mấy sãi hồi nãy, cũng ăn chay niêm Phật, mà cũng bị giam Địa ngục, ấy là không phải chơn tu, Nếu chơn tu thì sửa mình giữ đạo là thứ nhất, bố thí ăn chay thứ nhì. Cái nào cũng quí tại chữ tâm: bố thí khó tại lòng nhơn, không khó đều ra của ăn chay khó tại lònh chánh, không khó miệng cữ kiêng. Cho nên nhà nghèo bố thí một đồnh tiền, cầm đáng ngàn đồng nhà giàu có. Nhà giàu có ăn chay một bữa, cũng bằng chay một tháng nhà nghèo, là lấy chỗ khó ít nhiều mà tính phước, nếu rán chịu khó cho lắm, mới thiệt lòng thành tu hành.'Tự Kỳ tâu: Sao gọi trong kinh Kim cang có bốn câu kệ quí?' Phán:' Nghĩa nầy mắc lắm, trẩm giảng ký, thiện sĩ nhớ cho rành, Kinh Kim Cang 32 phần, phần thứ năm: 
    Phật cáo Tu bồ đề: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như lai.'

    Nghĩa là: Phật Thích Ca dạy ông Tu bồ Đề rằng: Phàm việc chi có hình tướng đều là sự huyễn sự dối. Nếu thấy cái tướng nào không phải tướng, thì là thấy Phật như lai.  'Bởi Phật không chịu hình tướng, không bày điện, cứ không ngỡ là quí.
    Phần thứ ba dạy phép không tâm (trong lòng không);  Tu bồ Đề nhược Bồ tát hữu ngã tướng, nhơn tướng chúng sanh tướng thọ giả tướng, tức phi Bồ tát.


    Nghĩa là: Nếu phật Bồ tát, mà có ngã tướng là lòng tham, nhơn tướng là lòng sân giận, chúng sanh tướng là lòng si mê bất thông, thọ giả tướng là lòng nịnh ái đắm sa, thì không phải là Phật Bồ tát '. Vì trong lòng không 4 điều ấy.

    Phần thứ 26 giảng phép không có thân (mình không).
    Nhĩ thời Thế tôn, nhi thuyết kệ ngôn:
    Nhược dĩ sắc kiến dĩ âm thinh câu ngã.
    Thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.

    Khi ấy Phật Thế tôn (Thích Ca) ngâm bốn câu kệ rằng:
    'Nếu lấy hình tướng có sắc mà muốn thấy ta, hoặc lấy âm nhạc tiếng ca ngậm mà muốn thấy ta thì người ấy làm đạo tà. chẳng thấy Phật Như Lai đặng '. Phật dụng cái tâm thanh tịnh vô hình, chớ không ưa hình tướng. 

    Phần 32 (phần rốt) dạy phép không việc đời:
    Nhứt thiết hữu vi phát, như mộng huyễn bào ảnh,
    Như lộ diệc như điển, ưng tác như thị quan.


    Nghĩa là: Hết thảy các việc có hình làm ra thì giả như chiêm bao, bọt nước, cái bóng của mình như móc sa trên ngọn cỏ, như chớp nháng đều không bền lâu, thấy đó mất '. Các việc hữu tình, đều hư huyễn như vậy, nên Phật trọng vô hình.


    Trong phần ấy, Phật có dạy câu nầy:
    Bất thủ ư tướng, như bất động.


    Nghĩa là: ' Chẳng dùng binh tướng, trơ trơ chẳng bận lòng.
    Lại trong phần 18, Phật dạy bỏ ba lòng:
    Tu bồ Đề, quá khứ tâm, bắt khả đắc.
    Hiện tại tâm, bất khả đắc.
    Vị lại tâm, bất khả đắc.


    Nghĩa là:'Không nên nhớ chuyện đã qua. Còn hiện tại bây giờ, không nên vọng tưởng. Sẽ đến đừng mơ ước '. Phải để tâm cho thanh tịnh thì không tội, mới đặng theo Phật Như Lai, Phật xưng là Như Lai vì trong phần 29, Thích Ca nói: Như Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai.Chữ Như Lai là tự nhiên cái tâm, không phải ở đâu mà đến và cũng chẳng đi đâu. Nên gọi tự nhiên như vậy. 

    Vua Tần Quảng thích nghia các bài kệ và các câu yếu lý trong kinh Kim cang,rồi phán rằng:' Nếu thiện sĩ về tụng thêm cho đủ một tạng kinh Kim cang (5.818 biến) và dem các bài kệ ấy giải nghia cho nguời nghe hiểu đạo Phật, không cần cúng chùa, quí t?i chừaa tham sân si ái bốn tội và bỏ ba cái lòng vọng tưởng, nh? c?u, mo uớc việc chưa tới, ch?a d? không lòng vọng tưởng tà vạy, là sửa lòng tu mình, khỏi tội mà đặng thành chách quả Ít nữa cũng được hưởng phước kiếp sau. Nếu người nghe mà cải ác tùng thiện, thì công của thiện sĩ lường không xiết, sẽ đặng siêu thăng'. 

    Tự Kỳ tạ ơn, rồi tâu rằng:' Tôi cám ơn vương gia cho sống lại và nhờ ơn dạy bảo, thắp hương mà lạy hoài đền ơn cũng không xứng. Còn các vị thần sở tại chỉ lầm, e bị tội lỗi xin vương gia rộng dung cho chư thần '. Phán:' Trẩm y lời miễn chấp. 

    Thiên sĩ hồi hương rán hết lòng làm lành, nhớ lời trẩm dặn '. Phán rồi truyền bốn quỉ sứ, đưa hồn Tự Kỳ, về tối cõi dương gian, giao cho các thần sở tại, đem hồn cho nhập xác.  
    Khi ấy Lâm tư Kỳ sống lại, như tỉnh giấc chiêm bao, kêu tiểu đồng, người nhà xúm lại cho uống nước trà, trong miệng Tự Kỳ bay ra mùi thơm lạ (ấy là hơi thuốc Phát Huện). Xóm làng tới thăm đông lắm, đều hỏi thăm việc Âm phủ mà nghe, vì từ xưa đến nay, chưa thấy ai thác đi sống lại, Tự Kỳ bảo đem giấy mực lại, cứ việc vẽ hình vua Tần Quảng với phán quan xử 42 án. Rồi để các án theo hoạ đồ, gọi là cuốn Hồi - Dương Nhơn - Quả. Ai nấy xem thấy đều hãi kinh, nội châu huyện quan dân đều đến xem sự lạ, thấy xử các án công bình, mới biết từ xưa đến nay, sự báo ứng không sai một mảy, mới tin Địa ngục rõ ràng, hồ nghi huyễn hoặc, nên nhiều người cải ác tùng thiện. Trong lúc ấy nhằm ngày mồng chín tháng ba, năm Mậu Ngũ, trong niên hiệu vua Gia Khánh trào Thanh. 

    Lâm tự Kỳ với người háo thiện, sao lục cuốn nầy mà cho thiên hạ coi, đua đậu tiền mướn khắc bản, vân vân.


    NHƠN-QUẢ LỤC LINH NGHIỆM KÝ


    (Biên các sự linh nghiệm kinh Nhơn-Quả nầy)

    1.           Uông-Nguyên ở huyện Tiền Đường, mẹ già, còn y đã ba mươi tuổi, mà không con, cha là ông Tinh-Hư, tính khắc bản kinh Hồi Dương Nhơn Quả, chưa khắc đặng mà phần. Uông-Nguyên muốn cầu cho mẹ đặng sống lâu và cầu con luôn thể, nên bán ruộng mà mướn khắc bản. Mới khắc nửa cuốn, mà vợ đã có thai đẻ con trai. Rủ thêm các vị háo thiên Ngại - Khởi vân vân, phụ tiền in tới muôn cuốn mà cho người. Đêm kia Uông-Nguyên chiêm bao thấy hồn cha về khen rằng:' Con noi ý cha, cha đã siêu thăng về cõi Thiên đường. Còn mẹ người sẽ trường thọ. Các vị phụ in, đều đứng tên vào sổ Thiên tào '. Sao gia đạo càng ngày càng khá, mẹ sông gần trăm tuổi. 
    2.           Triêu-Bích đi thi đậu về, thấy hồn vợ hiện dọc đường đón chồng khóc rằng:' Thiếp hay sát sanh, thường làm nham cua lắm. Nay hồn xuống âm phủ, phạt bỏ vào núi Giải - san, bầy cua kẹp ngày
    đêm khổ sở. Tại âm phủ trọng kinh Hồi - Dương Nhơn -Quả lắm.
    Tôi xin cho hiện hồn về, cậy tả bảy cuốn cho người mà chuộc tội'. Triệu -Bích về tới nhà mới hay vợ chết đã chôn rồi. Liền sao tả kinh nầy, mới được hai bổn mà cho lần. Kế đi viếng mả vợ gặp ông già xưng là thần núi nói rằng:' Vợ ngươi nhờ phước cho kinh, đã đặng đầu thai rồi. 
    3.           Vương -Phụng là thầy thuốc huyện Thoại -An, cữ sát sanh, lại
    phóng sanh nữa và hay mướn khắc các bản kinh khuyến thiện. Ngày kia bịnh ngặt, chiêm bao thấy hai quỉ sứ bắt hồn dẫn đi đặng nữa đường, ngó lên thinh không có ba vị, một vị mặc áo vàng nói rằng: ' Ấy là Vương - Phụng hay khắc bản kinh in cho thiên hạ, mau thả hồn ra '. Hai quỉ y lời. Vương -Phụng tỉnh dậy thuận chuyện, mạnh giỏi như thường, nên lo việc in kinh làm lành. Sau tu thành tiên. 
    4.           Dương -Sâm là tấn sĩ ở huyện Huỳnh -nham. Lúc chưa thi đậu, thấy trong làng khắc bản kinh Cảm Ứng và kinh Hội -Dương Nhơn
    Quả mà in cho người. Dương-Sâm xét mình ít tiền thấy tấm bản số 17 chưa khắc, xin chịu tiền nội một tấm ấy. Tối chiêm bao thấy ông thần mách bảo rằng:' Cho chàng trúng theo số bản kinh'. Sau thi đậu tấn sĩ thứ 17. Lấy đó mà suy: khắc bản kinh không luận tiền nhiều ít, quí tại lòng thành. 
    5.           Phương thời Khả ở huyện Hưu Ninh, nhà nghèo mà hay bịnh. Gặp người lạ nói rằng: Ngươi nghèo mà không con, số có 36 tuổi. Nếu muốn đặng phước, thì phải làm lành '. Thời -Khả về rán sức khắc các bản kinh, quyết in cho thiên hạ. Khắc mới phân nửa, bịnh giảm năm phần, khắc rồi thì hết binh. Sau sanh hai người con trai, lớn đều vinh hiển. Thời - Khả cũng đặng sống lâu. 
    6.           Trần tông Hiên ở huyện Ngô - Môn, năm Canh Ngũ trào Vua -
    Gia Khánh, tháng mười một nội xóm rong thành bị lửa cháy. Người trên thành ngó thấy có một người lớn cao, đứng trên nóc nhà Tòng Hiên mà chữa lửa, Ai nấy đồng lấy làm lạ. Không bao lâu các nhà xung quanh đều bị cháy hết, trừ ra một nhà Tòng hiên khỏi cháy! Ai nấy đều hỏi thăm vì cớ nào mà khôi bị hoả hoạn? Tòng Hiên nói:' Trong nhà có bản Cảm Ưng và bản kinh Hồi dương nhơn quả, không biết phải nhờ đó mà khỏi chăng '. 
    7.           Huyện Tiền Đường có ông văn học giỏi, là Hứa đình Du, hay
    tụng kinh Cảm Ứng, để thờ trên bàn, lối xóm coi theo mà ở. Đêm nọ ăn cướp tới dộng cửa, chúng nó xây xẩm, không thấy đường mà vô, hoảng hồn bườm hết. Sáng Đình Du hay sự ấy càng cám ơn thần, khắc bản ấn thí nhà càng khá hơn. 
    8.           Cống sanh (cử nhơn ) họ Uông, ở huyện Lạc Hiệp, ngày nọ chiêm bao thấy vào chùa ông Văn Xương ĐẾ Quân, có đôi liễn:
    Thiên thượng chủ ti hữu nhãn, đơn khán tâm điều:
    Nhơn gian văn tự vô quyền, toàn bằng âm đức.

    Nôm: Chủ tể trên trời có mắt, cứ ngó lương tâm:
    Văn chương dưới thế không quyền, trọn nhờ âm đức.

    Họ Uông ý muốn khắc câu đối đó vô thiện thơ (kinh ) mà cho đời hiểu sự chiêm bao thấy liễn Đế Quân nhứt định sự đậu rớt như vầy mà sửa lòng. Bỗng thấy ông thần bước ra vòng tay nói rằng:' Lệ thương in một trăm cuốn thiện thơ cho người, thì sống thêm một kí (12 tuổi ). Nếu in thêm đôi liễm nầy vào, cho đời rõ tìch thần thánh thưởng phạt, tin mà sửa lòng, phước thọ nhiều lắm'. 
    9.           Tạ thiệu Thuyên ở huyện Huyễn Bình bốn mươi tuổi mà không
    khong con, lấy làm rầu lắm. Có người khuyên y cho vay đừng ăn lời nặng, rán làm nhiều việc lành, và khắc bản in kinh cho người. mà cầu con thì đặng. Thiệu Thuyên tin lời làm liền. Vợ bịnh yếu đặng mạnh, sau sanh ba đứa con trai đều mạnh mẽ. Vợ chồng tin sự linh nghiệm nên làm lành thập bội hơn xưa. 
    10.       Họ Ngô ở Hàng Châu làm chức võ, sức mạnh đánh quờn hay
    lắm. Ngày nào cũng xúi chúng kiện thưa và ra tay giúp sức. Ngày kia họ Ngô đi với chúng bạn, ngồi nghỉ tại cầu Liên Kiều, gần cửa chùa ông Tưởng tướng công. Ngó thấy trong chùa có một người đương coi đọc kinh Hồi Dương Nhơn Quả. Họ Ngô cười và ngạo rằng:' Kinh ấy là nói gạt đàn ông dốt, đàn bà quê, chớ như bực văn học viên quan lẽ nào chịu đọc và khen ngợi! Thức cười cho ông văn học hồi trước, bày đặt điều huyễn hoặc làm chi? ' Nói chưa dứt lời, vùng té nhào hộc máu cả chén! Bạn hữu hỏi thăm, họ Ngô nói:' Thấy con quỉ lên cốt đứng dựa bàn thần, nạt lớn một tiếng, hết hồn mà té '. Cách ba ngày sau họ Ngô thác. Trương -đảng -Ngọc ở huyện Tiền Đường thấy tận mắt mà thuật
    chuyện ấy lại. 
    11.       Niên hiệu Gia Khánh, năm thứ 12. Trương tử Anh có một đứa
    con trai lên bông bịnh nghịch. Mấy thầy thuốc chạy hết. Tùng cậy họ Khuôn thỉnh tiên, đặng xin toa thuốc. Uống tuy khá mà mỏng còn lở lầy Thỉnh tiên nữa. Ngài cho toa thuốc rắc và dặn như vầy:' Đứa nhỏ nầy số vắn, tuy cho thuốc lành mạnh, sau cũng khó nuôi. Ngươi phải rán làm phước, cầu trời cho thêm tuổi. Đám Nghê tượng Hồng ở ấp này mới khắc bản Hồi Dương Nhơn Quả, ngươi phải phát tâm in ba trăm cuốn mà cho người thì nuôi đứa con ấy mới được '. Tử Anh y lời, thiệt con mạnh. 
    12.       Kim biên Tam tự Chấn Tổ, ở huyện Hữu Ninh. Thuở nay làm điều chi cũng giữ theo kinh Cảm Ứng với kinh Hồi Dương Nhơn Quả làm gốc. Nếu gặp ai làm dữ, thì hết sức giảng dạy khuyên can. Mùa thu năm Giáp Tuất, đi qua đò xứ Nghiêm lăng sông, Thất lý, bị lão lớn quá gãy bánh lái hư ghe thiếu chút mà chìm đò. Bộ hành ai nấy kinh hãi. Xảy đâu ngó thấy trong đám mây đen có ông thần bận giáp vàng tay cầm cờ đỏ, phất và nói lớn rằng:' Trong đò nầy có ba người tu theo kinh Cảm Ứng với kinh Hồi Dương Nhơn Quả, phải bảo hộ cho an'. Các người trong đò đều xúm lại, vì đồng nghe đồng. Chủ đò hỏi thăm nội bộ hành trong đò, có ai tu theo kinh Cảm Ưng với kinh Hồi Dương Nhơn Quả? Thì có họ Hứa ở phủ Nam Xương, họ Du ở huyện Gia Hưng, với ông Kim chấn Tổ là ba vị. 
    13.       Cung giai Dĩnh ở huyện Võ lâm, vợ là Lý thị, mang bịnh bĩ mãn (lớn bụng) hai mươi năm, mỗi lần đau bụng gần chết, cũng giống bịnh cổ trướng, uống các thứ thuốc không hết. Giai Dĩnh vào chùa Văn xương Đế quân lạy vái, nguyện khắc bản kinh Âm chất và kinh Hồi Dương Nhơn Quả, in với các thiện thơ cho người vái cho vợ lành bịnh.  Hèn lâu Lý thị mới mạnh. Còn em ruột là Cung giai Uý, vợ là Từ thị nghén song thai, giờ Thìn đẻ một đứa, còn một đứa trong bụng tới giờ Dậu, mà chưa ra, mẹ con mệt xỉu, nội nhà hãi kinh. Giai Uý vào chùa Văn xương, quì lại nguyện in thí kinh Âm chất chú giải, Hồi Dương Nhơn Quả, năm trăm bộ cầu cho vợ sanh thai mạnh khoẻ. Thiệt sanh mau mắn mẹ con đều bình an. Còn người chú là Cung chương đau bịnh trĩ  (ghẻ dưới giang môn), mấy năm ngồi thì đau nhức.Lạy Văn xương đế quân, cầu cho hết bịnh thì in kinh. Vái rồi lạnh mình bắt run như rét trong bụng lạnh ngắt như uống nước đá lần lần hết bịnh. 
    14.       Quan hình thơ là Thẩm lộc Minh ở huyện Tát, phụng chỉ về Kinh đô, vợ phát bịnh nặng. Lộc Minh lạy cầu Văn xương đế quân xin cải ác tùng thiện lo khắc bản in kinh. Người nhà vào chùa kêu Lộc Minh nói bà đã tắt hơi. Lộc Minh về nhà, vợ sống lại nói: 'Thiếp bị quỉ bắt dẫn đi, nửa đường gặp ông thần, xưng là Trị nhựt công tào, nói rằng người chồng có vái nên Đế quân bảo tha về '. Nhằm ngày 19 tháng 6. Đạo quang năm thứ ba. 
    15.       Hạ Chi sanh ở huyện Trường giang, ngụ Kinh đô nhớ mẹ già ở nhà 70 tuổi. Rằm tháng bảy, năm Quí Mão vào lạy Đế quân, nguyện in kinh Âm -chất với kinh Hồi -Dương Nhơn Quả cho đời, cầu mẹ trường thọ mạnh khoẻ. Không bao lâu đặng thơ nhà gởi qua nói: Mẹ đau phát bối đã lâu, rằm tháng bảy vùng hết.” 
    16.       Lưu-quân-An ở xứ Dương-Châu, làm chức tùng sự theo quan Lại bộ. Mẹ theo ở Kinh-đô, phát bệnh mê mẫn. Quân-An ở xa chùa Văn -đế, nên chồng ghế lên cho cao. Đầu canh năm lên ghế cao, lạy ngay phía chùa Văn-xương đế -quân cầu cho mẹ mạnh, thì khắc bản kinh in cho thiên hạ, giây phút bà mẹ tỉnh hồn nói rằng: “Ta bị một con quỉ bắt đi theo cả trăm tội nhơn bỏ tóc xoã, mặt mày lem luốc. Xảy gặp ông bảo tha một ta về, nên mới tỉnh lại.”  Nói rồi khoẻ lần, không uống thuốc mà mạnh.

    Hồi -Dương Nhơn-Quả lục

    Chung


    TỪ - ÂN NGỌC - LỊCH MINH KINH

    LỜI TỪA CỦA TÔ LAN TỰ NHƠN THU

    Kinh Ngọc Lịch nầy, gốc thầy tu hiệu Đạm - Si, gặp thần Phật truyền bổn nầy, về giảng cho đời hiểu. Sau truyền lại cho đệ tử là Vật Mê đạo nhơn (thầy tu để tóc) lưu truyền đã lậu, giảng điều quả báo minh bạch.

    Ngặt người đời, kẻ tỉnh ăn năn thì ít, mê mà không tin thì nhiều. Chê lành nhỏ mà chẳng làm, làm dữ nhỏ không sợ. Cũng có người: đã biết tội xưa, muốn chừa lỗi cũ. Chưa làm lành bao nhiêu, mà mong đặng phước gặp sẵn dịp dễ lắm liền cải lương tâm! Trách chi ông thánh nói: 'Người khác hơn cầm thú có bao nhiêu!' Thiệt là phải lắm. Coi các vị giàu sang trên đời, đều có căn lành theo Ngọc Lịch. Còn kẻ khó hèn, tuy tại tội kiếp trước, song cũng phạm trong Ngọc Lịch. Người sống bao lâu, ăn năn sao kịp! Kinh Diệc nói:'Coi làm việc lành, xảy gặp phước tốt '. Kinh thơ nói:' Làm dữ cầu may ví như đạp nhằm đuôi cọp, hoặc đi trên giá mùa xuân, có khi tan ra nước mà sụp '. Lại nói: ' Làm lành, trời cho phước xuống, làm dữ, trời cho hoạ xuống '. Phàm làm người việc nào đã thấy trước con mắt chẳng sai, thì chớ lôi thôi lây lất. Tôi chưa dám chắc mình là không quê, song cầu cho khỏi tội nghiệp mà thôi.
    Niên hiệu vua Gia Khánh, năm Kĩ Mão thánh 11. 

    LỜI TỰA CỦA KIM - DẦN Ở HUYỆN TIỀN ĐƯỜNG

    Người quân tử lập thân, làm việc nào mà không lành.   Miễn giữ theo lương tâm trời phú, cho khỏi tội với trời đất quỉ thần mà thôi. Nếu muốn làm gì thì làm, không sợ phép trời, chẳng tin báo ứng, thì càng ngày càng tệ, còn dạy nỗi gì? Tuy ông thánh nói:' Làm lành trời trả phước, làm dữ trời trả hoạ.' Họ nói:' Lành không chắc phước, dữ không chắc hoạ '. Như vậy các án trốn khỏi lưới dương gian, chẳng là bỏ qua sao? Đời tệ như vậy, người quân tử mới giảng làm sao? Nay có kinh Ngoc-Lịch truyền ra, khắc bản tới lần thứ tư, dạy dự phòng nghiêm nhặt, giảng quả báo rõ ràng, ai đọc tới cũng giựt mình sợ tội. Làm lành tuy không cần phước mà có phước, làm dữ sợ hoạ cũng không khỏi. Nếu không biết kiêng có trời soi xét, thì làm dữ luôn luôn. Xem kinh nầy mỗi việc coi như có thần biên tội phước, ở phải thì ngó trời đất, mình cũng không hổ thẹn là đủ rồi. 

    Niên hiệu Đạo -quang, năm Nhâm ngũ, tháng 9.

    LỜI DẶN CŨNG CỦA ÔNG KIM -DẦN

    Kinh Ngọc -Lịch này, ghi xét công quả, phân biệt ngay gian,
    linh hiển rõ ràng, quả báo trước mắt. Ai làm lành thì đặng phước, ai làm dữ thì mắc hoạ. Kẻ dữ mà ăn năn cải ác tùng thiện, lâu ngày cũng đổi hoạ ra phước. Lời dạy rẽ ròi, dẫu đàn bà con nít, nghe cũng hiểu mà giữ theo. Nếu ai không tin, gọi chuyện đặt điều, như phụ chiếc thuyền lành với mình cơn té sông, không chịu leo lên, thì phải bị chìm nơi biển khổ, sa Địa ngục đã lành rồi. Tôi ước ao cho các vị quân tử, để cuốn kinh này trên bàn, dựa đầu nằm, hằng ngày xem đọc, mắt thấy lòng ghê, thì răn mình không dám làm quấy. Như vậy thì hiệp theo lời thánh dạy, lành gặp phước, dữ mang tai. Nếu chừa lỗi làm phải cho trọn lành, tôi mừng giùm lắm.

    PHỤ TRẠ NIÊM HIỆU KINH NGỌC LỊCH

    Thầy Đạm -Si là Hồ -Tăng sãi nước Hồ, nước Liêu.   Tên Kinh -Ngô, năm canh ngũ, nước Liêu, niên hiệu Thái Bình thứ mười.
    Nhằm trào Tổng, vua Nhơn- Tông, niên hiệu Tiên -Thánh thứ
    tám, năm canh ngũ, ngày trùng cửu. Đạm -Si đi núi gặp kinh Ngọc -Lịch.

    KINH NGỌC -LỊCH

    ÔNG TỬ HOÀNG LÀ THẦN ĐÔNG NHẠC DẠY:

    Trời đất không tư vị, thần minh hay xét soi. Chẳng vị cúng tế mà cho lành, không trách thiếu lễ mà cho hoạ. Có quyền đừng ỷ thế lắm, giàu sang đừng xài phí lắm, nghèo khó đừng dối trá lường gạt tham gian. Bởi vì ba bực ấy, trời sẽ cho luân phiên xây vần, giáp vòng trở lại banđầu như đồng hồ vậy. ( Nếu có quyền mà ỷ thế quá, thì mau hết thế, tới thất thế sẽ bị báo cừu. Giàu xài phí quá thì hưởng mau hết phước, trở nên nghèo mà chịu khổ. Còn kẻ nghèo nếu biết kiếp trước tội nặng, nay chịu trả quả, phải ăn năn thủ phận không dám làm quấy, hết vận bỉ, tới vận thới, trời cho trở nên khá nếu liều mạng gian tham, trí trá lường gạt giựt của chúng, là buộc thêm tội, trời phạt chồng án tới già, e để hoạ dư cho con cháu khổ nữa, vì phạt dời mình chưa hết ). Cho nên mới làm lành một ngày, tuy phước chưa tới, mà hoạ đã lánh xa (như tai qua nạn khỏi ). Hoặc mới làm dữ một ngày, tuy hoạ chưa tới, mà phước đã lánh xa (như sẽ gặp) sự may, mà khiến ăn trược ). Người làm lành như vườn cỏ mùa mưa, tuy chẳng thấy lớn, mà càng ngày tốt tươi. Người làm dữ như đá mài dao, tuy chẳng hao, mà càng ngày mòn mổi. Phải nhớ mà răn lòng điều nầy, đừng làm những việc tốn của người cho đặng lợi mình, phải cữ kiêng cho lắm. Thà làm một mảy lành, tìm phương giúp cho tiện sự người cơn bất tiện.Khuyên người chớ làm một mảy dữ. Ăn mặc tuỳ theo bổn phận, độ cho vừa sức mình tự nhiên vui vẽ, lựa là còn số mạng làm chi? Xin xăm sủ quẻ bói khoa, mà hỏi hoạ phước làm chi? Ta nói sự hoạ phước, chắc cho đời rõ như vậy; khinh khi gạt người thì mắc hoạ, độ lượng rộng và hay dung người thì đặng phước. Nếu nghe lời ta mà ở theo, quỉ thần kính phục, thiên hạ kiêng vì. 


    BÀI BỬU CÁO DẠY BÁO ÂN
    của Huyền Thiên Thượng Đế

    Nếu đọc tụng, chừa các điều dữ, làm các điều lành thì khỏi hoạ.  Lạy ba lạy rồi tụng, hết rồi cũng lạy ba lạy. 

    Huyền nguơn ứng hoá. Võ khúc phân chơn, Thuỳ niệm ngã đẳng chúng sanh, hữu tướng thoát sanh phụ mẫu. Hoài đam thập ngoạt, nhủ bộ tam niêm, Tân khổ bá thiên, ân cần khốn niệm. Liên ngã phụ mẫu, nhựt tiệm suy hủ. Ngã kim trị niệm bình đẳng, tất diệt hiểm tuấn tham sâu, kỳ ân báo bổn. Nguyện ngã, hiện tại phụ mẫu, phước thọ tăng diên. Quá khứ phụ mẫu, tảo đắc siêu sanh. Đại thánh đại từ, đại nhơn, đại hiếu. Bát thập nhị hoá, báo ân giáo chủ hưu thành chơn với trị thế phước thần, ngọc hư sư tướng, Huyền thiên thượng đế kim huyết hoá thân, chung kiếp tế khổ thân tôn.   Giải nghĩa kinh Báo ân của Huyền thiên thượng đế.


    Đức Huyền thiên thượng đế, thương chúng tôi có cha mẹ ơn mang mển mười tháng, cho bú ba năm cay đắng trăm bề tấc lòng lo lắng nuôi con. Nay thương cha mẹ tôi càng ngày càng già yếu tôi nguyện tụng kinh này, thì lòng ở công bình ngay thẳng bỏ lòng độc hiểm, tham lam, giận hờn. Thờ Đức Huyền thiên thượng đế làm thầy: lại tụng cầu cho cha mẹ mà báo ân cội rễ. Nếu cha mẹ tôi còn sức khoẻ thì đặng sống lâu, nhờ trời thêm tuổi: còn như có mãn phần rồi thì được siêu thăng. (từ ấy sắp sau là phước ngài dài lắm ).


    MƯỜI ĐIỀU CẤM CỦA ĐỨC VĂN - XƯƠNG ĐẾ - QUÂN
    1.           Cấm chẳng ngay chúa (chủ), chẳng thảo cha mẹ bất nhơn, phi
    nghĩa. Phải ngay chúa, thảo cha mẹ, ở thiệt tình với người. 
    2.           Cấm không đặng tính mưu kế lấy của người cho lợi mình. Phải
    làm âm chất (âm đức ) mà cứu giúp thiên hạ. 
    3.           Cấm đừng sát sanh mạng vật mà ăn, nếu trùng kiến vô cớ cũng đừng sát hại, là lòng nhơn với vật mọn. 
    4.           Cấm tà dâm hoa nguyệt, giữ giới kỳ, là kỉnh vía thần. 
    5.           Cấm không đặng phá việc tốt của người, cho thất công người. Đừng làm cho rời rã ruột thịt của người. Phải giúp bà con mình, anh chi em cho hoà thuận với nhau. 
    6.           Cấm nói dèm siểm, chê bực tài hiền. Không đặng kiêu ngạo
    khoe mình, phải khen tài năng sự phải của người. Còn mình có công lao không khoe, dùng xưng mình (giỏi khiem ). 
    7.           Cấm say rượu, phải cữ thịt trâu, thịt chó. Phải ăn đồ hiền kiêng đồ độc, theo cách vệ sanh cho khỏi bịnh. 
    8.           Cấm tham lam không nhàm, bỏ đãy buộc chặt không bố thí.
    Phải giữ chữ cần kiệm, có dư mà giúp kẻ nghèo. 
    9.           Cấm kết bạn với kẻ quấy, hoặc ở xóm tiểu nhơn, gần kẻ nết xấu, phải thân với người tài đức mà bắt chước. 
    10.       Cấm không đặng bạ nói bạ cười, làm điều trái lẽ. Phải giữ mình ít nói, giữ theo đạo nghĩa đức hạnh mà ở.


    ĐỨC VĂN XƯƠNG ĐẾ QUÂN DẠY RẰNG:

    Loạn luân là bà con lấy nhau, phạt đoạ ngục Vô gián bị hành bào lạc 1.5OO lần, vì tội loạn luân nặng hơn tội tà dâm với người ngoài. (Bào lạc là cột đồng trống ruột cao 20 thước, đổ lửa than trong ruột cột đồng đốt cho đỏ, rồi quỉ sứ xiềng hồn tội cho ôm cột đồng mà đẩy lên, cháy tiêu thành than rớt xuống lại huờn nguyên hình như trước mà hành nữa cho đủ 1.500 lần). Nếu ai biết ăn năn trước, thì chừa lỗi, làm công mà chuộc tội, đừng phạm tội loạn luân dâm ác nữa. 

    Còn kẻ văn học đặt tuồng hoa nguyệt cho hát bộ hát, bài ca dâm, thơ dâm vẽ hình tục tĩu, hoặc in mà bán, làm cho ngươi tập thói dâm, hại hư phong hoá, hoặc mướn hát tuồn dâm, đều bị tội nặng, thác cầm vào ngục Vô gián (Vô gián nghĩa là không hở). Giã, rồi xay, rồi bào lạc, rồi nấu dầu, hàng xây vần hoài không hở.   Gái trai hành như nhau. 

    Thầy Liên Trí hoà thượng nói:' Ai thấy tuổng dâm truyện dâm, hoặc đọc lời hoa nguyệt, xem hình ảnh tục tỉu, đều động tâm sanh ra dâm loạn. Những tuồng dâm như truyện Tây sương ký, đặt chuyện Trương quân Thoại với Thôi -Oanh -Oanh mà hát cho đời mê mẫn, thiệt không phải người tài tử với giai nhân mà làm nết xấu nguyệt hoa như vậy. Nếu các viên quan có quyền thế, đốt tuồng truyện
    ấy, hoặc huỷ diệt đi, thì được phước lớn vô cùng. Còn con người ai cũng muốn sống, vật nào cùng sợ chết, nỡ nào giết nó ăn thịt cho bố mình, đành đoạn chặt đầu lột da, thọc huyết cắt cổ, nhổ lông đánh vảy, bằm xắt luộc nướng, đau rát khó kêu oan! Làm tội ác mà gây oan báo muôn đời, đến thác bị hành tội rồi còn phải đầu thai mà thường mạng nhiều kiếp. Sau đặng làm người, tật bịnh chết yểu, hoặc bị hùm tha rắn cắn đau bịnh hành hình thuốc độc, vân vân, đều bởi hay sát sanh mà khổ đó. Nay ta khuyên đời, chẳng phải biểu ăn chay trường hết, song khuyên trước cữ sát sanh. Nhà nào cữ sát sanh thì thần phật phò hộ, khỏi tai hoạ, ít bịnh, sống lâu, con thảo cháu hiền, đặng các điều may phước lớn, kể chẳng xiết. Nếu có của dư phóng sanh. thả rùa trạch chim cá, tụng kinh niệm Phật chẳng những hưởng phước thọ mà thôi, thác hồn được lên thiên -đường, hoặc về Tây - phương, khỏi luân hồi nữa, có đâu sa Địa ngục mà chịu hành hình. Ai có phước thấy lời ta khuyên, mau hồi tâm chừa dữ làm lành cho sớm, đừng để gần thác ăn năn không kịp Nếu làm chẳng đặng, cũng rán khuyên người '.

    LỜI BỬU - HUẤN
    của Ông Lữ Tổ (Lữ - đồng - Tân ) giáng cơ:


    Con người linh hơn muôn vật. Sao người đời không biết thân mạng. Cứ biết một sự dâm ác. Sự dâm ác dầu vua chúa quan dân xưa nay đều bị hư hại, vì dâm ác mà quên nước, quên nhà, quên danh, quên mạng, không kể gươm đao nước lửa mà theo dâm ác, không cần thể diện, tội phước hại đến chừng nào! Đức Văn -đế chỉ dụ:' muôn tội dữ, án tà dâm, đứng đầu! ' Lạy dạy rằng:' Nếu có dâm ác thì hư trăm việc '. Hai câu ấy thật hay lắm, quả lắm? Người đời thái quá tới loạn luân không cần lớn nhỏ cũng vì thói tà dâm! Không kể thân mạng, thể diện, danh giá, tiền của cũng vì tà dâm! Không rõ vì cớ nào thói tà dâm truyền nhiễm khắp thế gian như vậy! Song bọn ấy có kẻ mắc hoạ, có kẻ tuyệt tự, xuống âm ti còn bị ngục hình, Các người giữ lòng tự nhiên sạch, mới là đáng bực anh hào. Chẳng nói làm chi đến bực thượng sĩ là khó đặng, miễn các người chừa lỗi cũ, thì thờ thần cầu vái mới linh, khỏi thác yểu cho trọn danh con thảo, và dạy con cháu em út tập theo gương tốt của mình. Lời ngay phái chịu nghe, thuốc đắng phải lo uống. Các đệ tử khá nhớ đừng quên! Nếu mình ngay khỏi phạm thì biên lời ta khuyên đây mà dán trên vách cho em út con cháucoi, kẻ khác cũng thấy mà sửa nết.  Thương mạng vật thì sống lâu. Tiếc cơm gạo mà giàu được. Trọng giấy chữ thì làm quan. Dè lời nói thì đặng phước. Làm gương tốt cho cháu con. Đừng phạm tội nơi trời đất.

    LỜI DẠY CỦA CỬU - THIÊN TƯ -MẠNG TÁO -QUÂN

    Ta tuy coi sổ cái tại Cửu thiên, mỗi năm 24 tháng chạp tâu một kỳ. Song mỗi nhà điều có Táo quân thay mặt cho ta, mỗi tháng chạy tờ công quá mỗi người cho ta gài vào sổ chánh. Ta chẳng nỡ cho đời phạm tội vì lầm lỗi, nên dạy sau đây: Cấm đốt giấy chữ trong bếp, vì sợ tro ấy nữa đổ nhằm chỗ dơ. Cấm ca, khóc, hoặc chửi rủa, mắng nhiếc trong bếp. Chẳng nên đâm hành tỏi trong bếp, hoặc bửa củi trước bếp. Cấm bỏ lông gà, xương thú, củi dơ trong bếp ( ngồi chồm hổm ngay bếp ), hoặc quét động vô bếp. Cữ ăn thịt trâu, thịt chó, thì trong nhà bình an. Nếu ai loã lồ trong bếp, thì phạt nặng. Nhứt là cấm gõ gạc trên bếp, cạo dẫy chảo nồi trên bết.

    TÍCH ĐÔI LIỄN ÔNG QUAN - ĐẾ

    Tại phủ Hàng châu, tỉnh Chiết giang, có người Tú tài
    Trương đại Mỹ, ở phía tả núi Ngô san, thuật chuyện rằng: Hồi ta tắt hơi, hồn đến ngoài thành Phong đô vào lạy Quan đế mà khóc. Quan đế hỏi:' Tới số thì thác, lạy khóc ích chi? Ta bèn tâu:' Tôi cũng biết thác rồi không lẽ sống lại song thương mẹ già không ai nuôi, nên đau lòng mà khóc. Quan đế nói:' Như vậy để ta tâu cho.” Giây phút kêu ta mà nói:' Ta đã tâu rồi, Thượng đế khen ngươi có hiếu, cho sống thêm một kỷ (12 tuổi).' Liền cho ta uống một chén nước trà dạy rằng: ' Chùa ta khắp trong thiên hạ treo liễn rất nhiều, song không vừa ý ta, nên ta đặt một đôi liễn như vầy đây, ngươi coi cho nhớ, về mà truyền thiên hạ '. 

    Ta coi thấy:  Số định tam phân, phò Diêm hán, tiễu Ngô phạt Ngụy, tân khổ dị thường, vị liễu bình sanh sự ngiệp;  Chí tôn nhứt thống, tá Hi triền, phục ma đảng khấu oai linh phi chấn, chỉ huờn đương nhựt tinh trung.

    Thích nôm:
    Số trời định ba phân phò Diêm hán, đánh Ngô dẹp Nguy, cay đắng nếm đều, sự nghiệp bấy lâu chưa dứt.

    Lòng ta thâu một mối, giúp Hi triều, trừ yêu dẹp loạn, oai linh dậy khắp, tình trung thuở ấy vừa xuôi. 

    Ta đọc thuộc rồi, lạy tạ ơn Quan đế cho hồng ta về nhập xác, sống lại biết đã liệm rồi. Ta liền kêu lớn, bảo giở nắp săng cho ta ra. Ra rồi thuật chuyện vân vân, té ra quên hết nửa câu liễm trước! Cặp con mắt lại không thấy đường! Giây phút nghe gõ cửa, mẹ ta chạy ra trước thấy người bận áo xanh, đưa phong thơ mà nói rằng:' Xin trao thơ nầy cho con bà xem '. Mẹ ta nói:' Con tôi bịnh con mắt, coi thơ sao đặng?' 

    Người áo xanh nói:' Ấy là toa thuốc, bà trao cho mau '. Mẹ ta đem vào trao liền. Ta xé thơ ra xem thử thấy chăng? Té ra mắt sáng như xưa, coi rõ là nửa câu liễn trước? Kẻ xa người gần, đều lấy làm lạ! Hứa triệu Đình ở Nhơn hoà nghe ta đọc liền biên đôi liễn ấy, khắc treo tại chùa Ông núi Ngô san, lại có khắc một tấm bảng thuật chuyện sự tình đôi liễn, mà treo trước cửa chùa, cho kẻ có hiếu xem, kẻ bất hiếu biết chừa lỗi. Xin rán lưu truyền.

    KINH NGỌC - LỊCH của Thập ư Vương dọn kiểu, Thượng đế có phê, cho truyền trung giới, cải ác tùng thiện.

    Nguyên ngày ba mươi tháng bảy. Địa Tạng vương bồ tát ăn vía sanh, bởi ngài làm chức U minh giáo chủ cai trị mười vua thập điện. Nên bữa vía ngài, thập vương với các vị thần đều đến chầu mừng.Địa Tạng vương phán rằng:' Ta muốn siêu độ chúng xanh, nên mỗi năm ngày vía nầy, ta truyền ân xá các phạm tội nhẹ được đầu thai, tội nặng thì giảm bớt. Ngặt người đời làm lành có ít, làm dữ rất nhiều, ta thấy thập vương các ngục hành hình thảm thiết! Vậy phải tra xét cho kỹ, những ai tại dương thế biết ăn năn chừa lỗi, có khuyên đời làm một hai điều lành, thì trừ bớt tội cho nó '. Thập vương tâu:' Chúng tôi y luật hội nghị '. Nếu ai làm lành tự nhỏ đến già, thì đưa lên cõi thần tiên. Còn kẻ nào công quả bằng nhau, khỏi hành tội, đặng đầu thai kiếp khác như thường. Nếu công ít, quả nhiều, thì hành tội tuỳ theo dư quá nhiều ít, rồi cho đầu thai kẻ khó hèn. Nếu biết chừa lỗi làm lành kiếp sau sẽ cho đầu thai hưởng phước. Nếu còn làm dữ nữa, sẽ bắt xuống hành hình, rồi cho đầu thai cùng khổ đáo để, sống chịu hoạ tai, đến thác sẽ giam vào Địa ngục không đặng luân hồi nữa. Còn kẻ quá ít, công nhiều, trừ còn dư công, thì đặng đầu thai hưởng phước giàu sang trường thọ. Trừ ra tội bất trung là phản chủ, bất hiếu với ông bà cha mẹ, hoặc là liều mình ( tự vận ), hoặc sát sanh thái quá không tin luân hồi báo ứng. Cứ nói theo tục ngữ:' Người thác thì hồn phách tiêu tan hết, bỏ xác thúi rồi, còn hồn đâu mà bị hành tội nơi âm phủ. Thường thấy người sống bị tội, nào thấy ma chết mang gông, chết rồi thì thôi, còn biết sự gì nữa! '.

    Mấy lời ấy quê lắm! Tuy thác thời bỏ xác, chớ linh hồn con hoài, sống làm dữ bao nhiêu, thì thác bị hành tội bấy nhiêu. Mấy kẻ bày đặt nói trước, cho người không tin âm phủ, thì đã bị Vô gián địa ngục, không đặng đầu thai. Người đời tuy thấy kinh sách tam giáo giảng dạy, song không tin, rất uổng công tiên Phật thánh thần dạy bảo. Trăm người không có một người tin mà cải ác tùng thiện, nên phải lập thêm địa ngục mà hành hình mới đủ. Nay Bồ tát thấy vậy mà thương, truyền chỉ thế giảm. Chúng tôi cũng vưng lời, cho các người dữ chịu hồi tâm, ngày vía Bồ -tát với các ngày vía chúng tôi, ăn chay thệ nguyện thiệt tình ăn năn, cải ác tùng thiện, không dám làm dữ nữa, rán sức làm một điều lành chi đó, sau thác xuống hồn khỏi bị hành tội. Trừ ra tội tôi chẳng ngay, con chẳng thảo, hoặc giết mình, hoặc làm mưu mà gạt người lương thiện đến nỗi phải bị trời đánh, chết trôi, chết thiêu, cọp ăn, rắn cắn, thì hồn xuống âm phủ phải chịu hành phạt, song cũng chế giảm một bực vì sự ăn năn chừa lỗi. Nay chúng tôi truyền các phán quan biên hết các sự tội phước, sống làm điều lành nào, mà được phước chi, làm điều dữ nào, thác bị hành ngục chi, ai ai nghe qua cũng hiểu, để dưng cho Bồ -tát xem. Đợi gặp ai cho đức hồi dương, sẽ lưu truyền cho thiên hạ'. 

    Khi ấy phán quan điện nào, biên theo điện nấy, thành ra bổn Ngọc -lịch, dưng cho Địa -tạng vương xem, Ngài khen hay.


    Qua mùng ba tháng tám, Người với thập vương chư thần đồng dưng Ngọc -lịch cho Thượng -đế ngự duyện Thượng -đế phán rằng:' Hay lắm! Từ nầy chư thần rán xem xét, người đời nguyện chừa lỗi không phạm nữa, làm một sự phước thì cho trừ hai tội cũ, năm điều phước cho trừ hết tội xưa, lại đặng ghét làm siêu độ cho thân quyến nữa, trai đặng đầu thai phú quí, gái đặng đầu thai làm trai Thành hoàng Táo thần tuân chỉ '.


    VUA TẦN QUẢNG NGỰ ĐIỀN THỨ NHỨT

    Làm điều lành nào, được thưởng phước,kể ra sau đây:

    1.     Lượm giấy chữ nho, đốt trong trả, đổ tro xuống sông, thì được con thảo cháu hiền. Nếu đốt trong bếp thì có tội. 
    2.     Đốt các thơ truyện hoa nguyệt, cho khỏi hư phong tục, hoặc làm lành làm phước, đều hưởng phước và sống lâu.

    Làm điều dữ chi, phạt tội gì, kể ra sau đây: 

    1)       Liều mạng giết mình, cho người mắc hoạ phạt làm ngạ quỉ (ma đói). 
    2)       Các sãi ăn của thập phương mà tụng kinh thiếu, hoặc chịu của người công đức mà tụng kinh thiếu, đều phải tụng bổ lại.

    Tần quảng vương cầm sổ sống thác, trị việc âm phủ. Đền ở tại dưới biển lớn, chánh hướng tây theo đường Hắc đạo suối vàng. Phàm người lành mãn phần, thì cho người tiếp dẫn lên Thiên đường, hoặc về Tây phương. Còn ai công quả bằng nhau, thì qua cửa thứ mười cho đầu thai hoặc gái làm trai, hoặc trai làm gái, mắc nợ nần thì trả quả cho nhau. Nếu công ít quả nhiều, thì dẫn ra phía hữu cái đền, lên đài Nghiệt Cảnh mà soi.Đài cao 11 thước mộc, treo kiếng lớn mười ôm, day mặt qua hướng đông, trên đề bảy chữ rằng:' Nhiệt cảnh đài tiền vô hảo nhơn'. Các hồn soi thấy bình sanh việc chi, đều ứng đủ lớp lang như hát bóng, nên chối không được. Tới đó mới hay rằng.' Muôn lượng vàng ròng đem chẳng đặng, cả đời bản có tội theo mình '. Soi kiếng làm án rồi, sai quỉ giải hồn qua cửa thứ nhì, cầm ngục hành tội. Người không kể cha mẹ sanh thân vì sự tức mà tự vận thắt họng, trầm mình, uống thuốc độc, hoặc kiếm cớ chi mà liều mình, không đợi tới số đòi hồn mà chết về nghiệp giết mình (trừ ra vì trung hiếu tiết nghĩa mà giận lẫy, hoặc bị phạm tội sợ hành, tội chẳng đến chết, hoặc muốn liều mạng mà hại người mắc hoạ: làm như chơi mà ra chết thiệt cho người mắc hoạ: các hồn chết về nghiệp ấy, Táo quân với chư thần, bắt hồn giải đến cửa đền nầy, giam vào ngục ngạ quỉ, gặp ngày tuất ngày hợi, thì phải làm cách liều mình ấy, cầm 70 ngày, hoặc một hai năm, rồi dẫn hồn về ở chỗ liều mình gia quyến có cúng thì được về ăn, đốt vàng bạc giấy áo thì đặng lãnh. Nếu biết lỗi không hiện hình nhát người, hoặc không bắt ai mà thế, đợi mấy người trên Dương gian bị làm nhơn mạng đặng khỏi hoạ, thì chư thần giải hồn ấy đến đây, sẽ giải qua cửa thứ nhì tra công quả, nếu trừ rồi dư quá bao nhiêu thì hành tội và giải qua cửa khác hành nữa. 

    Còn khi sống mà lòng mong liều mạng đặng hại người, hoạc hăm làm nhơn mạng cho ai, tuy liều mình mà chưa chết, cũng ghi lòng tội hành hình, tu có làm lành cũng trừ tội ấy không đặng. Lúc hồn còn ở chỗ liều mình, mà hiện hình làm ma nhát cho chúng sợ mà chết, thì sai quỉ mặt xanh nanh vút bắt hồn xuống hành tội cho đến kiếp, rồi cầm ngục mãi không cho đầu thai. 

    Còn các thầy chùa, thầy pháp, thầy tu, người ta mướn tụng kinh mà tụng thiếu sót, chừng hồn xuống đây phải ở sở bở kinh, chỗ ấy có đủ thứ kinh, cho đèn lưu ly mờ mờ, mà tụng cho đủ các chỗ thiếu hồi đó. 

    Dầu thầy chơn tu cho mấy cũng phải bổ cho đủ vì tiền người. Nếu kẻ tu tại gia tụng cho mình, có sái chữ đọc thiếu cũng không chấp, trọng tại có lòng thì đặng phước khỏi tụng bổ.

    Ngày vía vua Nhứt điện là ngày mồng một tháng hai, nếu ngày ấy ai ăn chay, đặt bàn trở về mặt hướng bắc, nguyện không làm các điều dữ, đọc trải qua bài này một bận, hoặc in Ngọc lịch mà cho thiên hạ, cải ác tùng thiện, đến mãn phần trăm sai thanh y đồng tử rước hồn đem về Tây phương.


    ·         VUA SỞ GIANG NGỰ TẠI ĐIỆN THỨ NHÌ

    Các điều lành đặng phước, kể ra sau nầy:

    1. Bố thí cơm cháo, được hưởng phước giàu có
    2. Thí thuốc cứu người, đời đời giàu sang.

    Các điều dữ bị hành tội, kể ra sau nầy:

    1.     Ban đêm tính việc quấy, phạt vào ngục Hắc vân sa cho mây đen đè mình, vùng không đặng. 
    2.     Các viên quan ăn hối lộ, đánh ép kẻ ngay, bắt chịu án oan, phạt
    giam hoài trong tù xa, ló cổ ra mà chịu. 
    3.     Dỗ dành con nít làm quấy, bị cầm ao giá lạnh. Sở giang vương ở dưới đáy biển nam, địa ngục rộng năm trăm dặm do tuần, gồm 16 cái ngục nhỏ, kể ra đây: 
    1.              Ngục Hắc vân sa 
    2.              Ngục Phẩn thỉ nê, Phẩn 
    3.              Ngục Ngũ xa, đâm 
    4.              Ngục Cơ ngạ, đói
    5.              Ngục Tiêu Khát, khát nuớc 
    6.              Ngục Nung huyết, máu 
    7.              Ngục Nhứt đồng phủ, 1 chảo đồng 
    8.              Ngục Đa đồng phủ, nhiều chảo đồng 
    9.              Ngục Thiết đối, cối xay sắt 
    10.          Ngục Bân lương, đong lường 
    11.          Ngục Kê trác, gà mổ 
    12.          Ngục Khôi hà, ao tro 
    13.          Ngục chước triệt, chặt khúc 
    14.          Ngục Kiếm diệp, gươm lá 
    15.          Ngục Hồ lang, cáo, chó sói 
    16.          Ngục Hàng băng trì, ao giá 

    Nếu phạm tội dụ dỗ trẽ nhỏ, cạo đầu vô chùa làm sãi, làm cô vải; hoặc còn nhỏ tự ý cạo đầu vô chùa đi tu bỏ cha mẹ, mang tội bất hiếu;  hoặc ai gởi thơ ( kinh sách ) hoặc đồ đạc, cố ý nói làm mất mà làm của mình hoặc làm hại tai mắt tay chưn người; không biết coi mạch làm thuốc bướng hại người mà lấy tiền: hoặc nhà giàu bất nhơn mua mọi gái, sau người chuộc lại mà không cho: hay là làm mai ham ăn của mướn giáu tuổi, tráo tuổi, rõ biết gái trai có tật bịnh, gian giảo, mà nói gạt người sau chúng nó bị tức tối: các tội kể trên đó, tuỳ theo nặng nhẹ, giam vào 16 ngục hành cho đáng kiếp, rồi giải qua cửa thứ ba hành nữa. 

    Nếu ai giảng Ngọc lịch, hoặc in cho thiên hạ, hoặc thấy kẻ bịnh nghèo mà cứu giúp, hoặc bố thí cơm cháo gạo tiền, hoặc biết ăn năn chừa lỗi, thì cho trừ tội trước khỏi tính trước khỏi tính, được qua cửa thứ mười đi đầu thai làm người. 

    Nếu cữ sát sanh, cấm con cháu không giết trùng dế và đến mồng một tháng ba là ngày vía trẫm ăn chay nguyện phóng sanh, sau khỏi bị đoạ địa ngục được qua cửa thứ mười đầu thai hưởng phước.


    Xưa nay lượm giấy chữ thì sống lâu, ai cũng rõ biết. Nếu đạp giấy chữ, chẳng hề hưởng giàu sang phước thọ bao giờ. Như việc buôn bán đồ thiệt tốt giá vừa phải thì nhiều người mua,lựa phải dán lời rạo, vậy cho chúng tin miếng giấy áp tới mua nhiều sao? Huống chi dán nơi vách tường, mặt chợ mới, coi tử tế, lâu gió mưa rớt xuống bùn lấm ướt nhẹp, kẻ muốn lượm cũng không thể lượm được. Cho đến chỗ dơ, thấy đầy những cán dù, cán viết, miểng sành, giầy guốc, đều cũng có chữ trong đó, kẻ trong chữ nghĩa, cũng không thế lượm cho hết. Nên ta khuyên đời phải xét cho kỹ, mà khuyên nhau rằng:' Giàu nghèo có phần số mạng, không phải tham mà đặng nhiều. Muốn đặng phước thì trước đừng làm tội. Nếu làm tội như vậy sao đặng nên giàu có? Nếu tin lời ta,  
    thì đừng dán lời rao chữ nho. Các món vật dụng đừng viết nho in chữ nho vào đó. Tự nhiên không cầu lợi mà lợi nhiều, chẳng cầu phước mà phước đến, là vì trọng chữ nho, không đụng đâu để đó.


    No comments:

    Post a Comment